Rx - Thuốc này chỉ dùng
theo đơn thuốc
Promestriene 1% (w/w)
Để xa tầm tay
trẻ em
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng
1. THÀNH PHẦN CÔNG THỨC THUỐC
Mỗi 1 g kem
chứa:
Thành phần dược chất:
Promestriene..................................................................................................... 10
mg
Thành phần tá dược: Cetostearyl alcohol,
Cetomacrogol 1000, dầu Parafin, Propylen
glycol, Glycerin, Methylparaben, Propylparaben, Butylated
hydroxytoluene, nước tinh khiết.
2.
DẠNG BÀO CHẾ
Kem bôi dùng
trong phụ khoa.
Mô tả: Kem bôi màu
trắng đến trắng ngà, thể chất mềm, mịn, đồng nhất
3.
CHỈ ĐỊNH
Điều trị teo
âm hộ do thiếu hụt estrogen ở phụ nữ mãn kinh.
4. LIỀU DÙNG, CÁCH DÙNG
Thuốc dùng
ngoài.
Trong tuần đầu điều trị, thoa một lớp kem mỏng lên âm hộ mỗi ngày, sau đó là xoa bóp nhẹ. Đến
khi các triệu chứng giảm bớt (trung bình sau 3 tuần): bôi một lần sau mỗi 2
ngày.
Để bắt đầu và tiếp tục điều trị các triệu chứng sau mãn kinh, nên sử dụng liều hiệu quả tối thiểu trong thời gian ngắn nhất có thể
Đối với các sản phẩm dùng cho âm đạo dựa trên estrogen
mà mức độ tiếp xúc với estrogen
toàn thân vẫn nằm trong giá trị bình thường sau mãn kinh, không nên bổ
sung progestogen.
Điều trị duy trì có thể cần
thiết.
5. CHỐNG CHỈ ĐỊNH
-
Đã biết
hoặc nghi ngờ ung thư vú
hoặc có tiền sử ung thư
vú.
- Đã biết hoặc nghi ngờ có khối
u ác tính phụ thuộc estrogen (ung thư nội mạc tử cung…).
- Chảy máu không rõ nguyên nhân.
-
Tăng sản
nội mạc tử cung không được điều
trị.
-
Có tiền sử hoặc có thuyên
tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh
mạch sâu, thuyên tắc phổi).
- Đã biết bệnh huyết khối (thiếu hụt
protein S, protein C hoặc
antithrombin).
- Thuyên tắc huyết khối động mạch đang hoạt động hoặc gần đây (đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim).
-
Bệnh gan cấp tính hoặc tiền sử bệnh gan cho đến khi bình thường hóa các xét nghiệm
chức năng gan.
-
Rối loạn nội tiết
và chuyển hoá porphyrin
-
Cho con bú.
-
Kết hợp
với các sản phẩm diệt tinh trùng và khi
sử dụng bao cao su latex cho nam.
-
Quá mẫn
với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào của thuốc.
6.
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
Cảnh báo đặc biệt
Để điều trị các triệu chứng sau mãn
kinh, chỉ nên bắt đầu liệu pháp
hormone thay thế (HRT)
nếu các triệu chứng ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống.
Trong mọi trường hợp, việc đánh
giá cẩn thận tỷ lệ lợi
ích/rủi ro nên được thực hiện ít nhất mỗi năm một lần và chỉ nên tiếp tục HRT
nếu lợi ích cao hơn nguy cơ.
Dữ liệu về nguy cơ liên quan đến HRT trong điều trị mãn kinh sớm còn
hạn chế. Tuy nhiên, với mức độ rủi ro tuyệt đối thấp ở phụ nữ trẻ, tỷ lệ lợi
ích/ rủi ro ở những phụ nữ này có thể thuận lợi hơn so với phụ nữ lớn tuổi.
Kiểm tra/giám sát lâm sàng
Trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục HRT, cần ghi lại đầy đủ tiền sử bệnh của cá nhân và gia đình. Việc khám lâm sàng (bao gồm khám
khung chậu và vú) nên được điều chỉnh dựa trên điều này và các chống chỉ định và thận trọng khi sử dụng. Trong quá
trình điều trị, khuyến cáo bệnh nhân nên đi khám định kỳ, tần suất và tính chất của việc khám bệnh phải phù hợp với từng
bệnh nhân. Bệnh nhân cần được thông báo về các dạng thay đổi ở vú và những thay
đổi này nên được báo cáo cho bác sĩ hoặc y tá
của họ. Việc kiểm tra bao gồm các chẩn đoán hình ảnh thích hợp (ví dụ như chụp
X-quang tuyến vú), phù hợp với các phương pháp sàng lọc hiện hành và điều chỉnh
cho phù hợp với nhu cầu lâm sàng của bệnh nhân.
Các tình huống cần giám sát
Nếu có bất kỳ tình trạng nào
dưới đây, có tiền sử và/hoặc có ảnh hưởng xấu
đến thời kỳ mang thai hoặc liệu trình
điều trị hormone trước đó, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ. Cần lưu ý rằng
những tình huống này có thể tái phát hoặc trầm trọng hơn trong khi điều trị với
DEMAKGON 1% CREAM, cụ thể là:
- U cơ trơn
(u xơ tử cung) hoặc lạc nội mạc tử cung.
-
Các yếu tố nguy cơ gây huyết
khối tắc mạch.
- Các
yếu tố nguy cơ của các bệnh ung thư phụ thuộc vào estrogen, ví dụ như ung
thư vú ở người thân cấp 1
-
Huyết áp cao.
-
Các vấn đề về
gan (ví dụ như u tuyến tế
bào gan).
- Tiểu đường có hoặc không có bệnh
lý mạch máu.
- Sỏi mật.
- Đau nửa đầu
hoặc nhức đầu (nghiêm trọng).
-
Lupus ban đỏ hệ thống.
- Tiền sử tăng
sản nội mạc tử
cung.
- Động kinh.
- Hen suyễn.
-
Xơ cứng tai.
Trường
hợp ngừng điều trị
ngay lập tức
Nên ngừng điều trị nếu phát hiện ra chống chỉ
định và trong các trường hợp sau:
•
Vàng da
hoặc suy giảm chức năng gan.
• Tăng huyết áp
đáng kể.
•
Xuất hiện
triệu chứng đau đầu giống
như đau nửa đầu.
• Mang thai.
Tăng sản
nội mạc tử cung và ung thư
Ở
những phụ nữ chưa cắt tử cung, nguy cơ tăng sản nội mạc tử cung và ung thư tăng
lên khi chỉ sử dụng estrogen tác dụng toàn thân trong thời gian dài.
Đối
với các sản phẩm dựa trên estrogen dùng trên đường âm đạo mà nồng độ estrogen toàn thân vẫn nằm trong giá trị bình thường sau
mãn kinh, không nên bổ sung progestin.
Sự an toàn trong điều trị tăng sản nội mạc tử cung hoặc ung thư lâu dài
(hơn một năm) hoặc điều trị lặp lại bằng estrogen âm đạo vẫn chưa được thiết
lập một cách chắc chắn. Do đó, nếu việc điều trị được lặp lại, cần được đánh
giá lại ít nhất mỗi năm một lần.
Việc kích thích bằng estrogen có thể dẫn đến sự biến đổi tiền ác tính
hoặc ác tính trong ổ lạc nội mạc tử cung còn sót lại. Do đó, nên thận trọng khi
sử dụng thuốc này ở những phụ nữ đã cắt bỏ tử cung do lạc nội mạc tử cung, đặc
biệt nếu có lạc nội mạc tử cung còn sót lại.
Nếu chảy máu đột ngột hoặc đốm xuất hiện bất cứ lúc
nào trong quá trình điều trị, cần điều
tra nguyên nhân, có thể bao gồm sinh thiết nội mạc tử cung để loại ung thư nội
mạc tử cung.
Những rủi ro sau đây có liên quan đến HRT toàn thân và áp dụng ở mức độ
thấp hơn đối với các sản phẩm estrogen dùng đường âm đạo khi nồng độ estrogen
toàn thân vẫn nằm trong giá trị bình thường sau mãn kinh. Tuy nhiên, chúng phải được tính đến trong
trường hợp sử dụng thuốc này lâu dài hoặc lặp lại.
Ung thư vú
Dữ
liệu dịch tễ học từ một phân tích tổng hợp
lớn cho thấy không có nguy cơ gia tăng ung thư vú ở những phụ nữ không có tiền sử ung thư
vú dùng estrogen âm đạo liều thấp. Người ta vẫn chưa xác định được liệu
estrogen âm đạo liều thấp có thúc đẩy tái
phát ung thư vú hay không. Ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng hiếm gặp hơn nhiều so với ung thư vú.
Dữ liệu dịch tễ học từ một phân tích tổng hợp lớn cho thấy nguy cơ
ung thư buồng trứng tăng nhẹ ở phụ nữ sử dụng HRT toàn thân chỉ có estrogen,
điều này trở nên rõ ràng sau 5 năm sử dụng và giảm dần theo thời gian sau khi
ngừng điều trị.
Huyết khối tĩnh mạch
HRT toàn thân có liên quan đến việc tăng 1,3 đến 3 lần nguy cơ phát triển huyết khối tĩnh mạch (VTE), bao gồm huyết khối tĩnh mạch
sâu hoặc thuyên tắc phổi. Tình trạng này có nhiều khả năng xảy ra trong năm
điều trị đầu tiên.
Nguy cơ VTE tăng lên ở những bệnh nhân đã biết bệnh huyết khối và HRT.
Do đó nó được chống chỉ định ở những bệnh nhân này.
Các yếu tố nguy cơ thường được công nhận đối với VTE là: liệu pháp
estrogen, tuổi cao, phẫu thuật lớn, bất động kéo dài, béo phì (BMI > 30 kg/m2),
mang thai/ giai đoạn sau sinh, bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và ung thư.
Không có sự đồng thuận về vai trò có thể có của chứng giãn tĩnh mạch trong VTE.
Như ở tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật, các biện pháp dự phòng nên được xem xét để ngăn
ngừa VTE sau phẫu thuật. Nếu một can thiệp phẫu thuật theo kế hoạch
phải được theo sau bởi một thời gian dài nằm nghỉ ngơi
phục hồi, thì nên ngừng HRT từ 4 đến 6 tuần trước khi tiến hành thủ thuật. Điều
trị chỉ nên được tiếp tục khi bệnh nhân có thể vận động trở lại.
Ở những phụ nữ
không có tiền sử cá nhân
về VTE nhưng có người thân cấp 1 có tiền sử huyết khối ở độ tuổi sớm, có thể tiến hành sàng lọc sau khi
được tư vấn cẩn thận về những hạn chế của nó (sàng lọc chỉ xác định một số bất
thường nhất định về huyết khối).
Nếu một bất thường huyết khối liên quan đến huyết khối trong các thành
viên trong gia đình được xác định hoặc nếu bất thường
là "nghiêm trọng" (ví dụ như thiếu hụt antithrombin, protein S hoặc protein C hoặc kết hợp các
thâm hụt), HRT được chống chỉ định.
Cần đánh giá cẩn thận tỷ lệ lợi ích/ nguy cơ của việc sử dụng HRT ở
những phụ nữ đã được điều trị bằng thuốc chống đông máu thường xuyên.
Nếu VTE xảy ra sau khi bắt
đầu điều trị, nên ngừng điều trị. Bệnh nhân nên liên hệ với bác sĩ của họ ngay
lập tức nếu nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào của huyết khối tắc mạch (như sưng
đau chân, đau ngực đột ngột, khó thở).
Bệnh động mạch vành (CD) Estrogen
đơn thuần
Dữ liệu từ các
nghiên cứu ngẫu nhiên không cho thấy tăng nguy cơ mắc bệnh động mạch vành
ở phụ nữ cắt tử cung khi sử dụng liệu pháp sử dụng estrogen toàn thân.
Đột quỵ do thiếu máu cục
bộ
Liệu pháp sử dụng estrogen
toàn thân có liên quan đến việc tăng tới 1,5 lần nguy cơ đột quỵ do
thiếu máu cục bộ. Nguy cơ tương
đối không thay đổi theo tuổi hoặc thời gian sau mãn kinh. Tuy nhiên, vì nguy cơ cơ bản của đột quỵ
phụ thuộc rất nhiều vào độ tuổi, nên nguy cơ tổng thể ở phụ nữ sử dụng HRT sẽ
tăng lên theo tuổi.
Các tình huống khác
Estrogen có thể gây giữ nước do đó bệnh nhân suy tim hoặc suy thận cần
được theo dõi chặt chẽ.
Bệnh nhân có tăng triglycerid máu từ trước nên được theo dõi chặt chẽ
trong khi điều trị bằng estrogen thay thế hoặc bất kỳ liệu pháp thay thế hormone
nào, vì một vài trường hợp có nồng độ triglycerid huyết tương tăng cao dẫn đến
viêm tụy trong quá trình điều trị bằng estrogen.
Estrogen làm tăng nồng độ TBG (globulin liên kết với thyroxine), dẫn
đến tăng tổng lượng hormone tuyến giáp trong tuần hoàn, được đo bằng xét nghiệm
iốt gắn với protein (PBI, iốt gắn với protein), mức T4 (bằng sắc ký cột hoặc
xét nghiệm miễn dịch phóng xạ) hoặc T3 (bằng xét nghiệm miễn dịch phóng xạ).
Liên kết của T3 với resin giảm, phản ánh sự gia tăng TBG. Nồng độ của T4 và T3
tự do không thay đổi. Nồng độ của các protein liên kết khác trong huyết thanh,
chẳng hạn như CBG (globulin liên kết corticosteroid) hoặc SHBG (protein liên
kết hormone sinh dục) có thể tăng cao, dẫn đến sự gia tăng tương ứng của
corticosteroid tuần hoàn và steroid sinh dục. Mức độ hormone tự do hoặc hoạt
tính sinh học không bị thay đổi. Nồng độ
của các protein huyết tương khác có thể
tăng lên (cơ chất angiotensinogen/renin,
alpha-1-antitrypsin, ceruloplasmin).
Sử dụng HRT không cải thiện chức năng nhận thức. Có một số bằng chứng
về việc tăng nguy cơ mất trí nhớ ở những phụ nữ bắt đầu sử dụng HRT kết hợp hoặc estrogen liên tục sau 65 tuổi.
DEMAKGON 1% CREAM chứa butylated hydroxytoluene (E321), cetostearyl alcohol có
thể gây ra các phản ứng tại chỗ trên da (như viêm da tiếp xúc).
DEMAKGON 1% CREAM chứa methyl paraben, propyl paraben có thể gây ra các
phản ứng dị ứng (có thể xảy ra chậm).
Thuốc này có chứa 50mg propylene glycol trong mỗi 1g sản phẩm.
Propylene glycol có thể gây kích ứng da.
7.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ
Phụ nữ có thai
DEMAKGON 1% CREAM không được chỉ định trong thời kỳ mang thai. Nếu có
thai trong thời gian điều trị bằng kem DEMAKGON 1% CREAM, thì phải ngừng thuốc
ngay lập tức.
Dữ liệu từ hầu hết các nghiên cứu dịch tễ học được thực hiện cho đến
nay liên quan đến việc thai nhi vô tình tiếp xúc với estrogen đã không đưa ra
bất kỳ bằng chứng nào về tác dụng gây quái thai hoặc gây độc cho thai nhi. Vì
thế, không nhất thiết phải ngưng điều trị khi phát hiện có thai trong quá trình
điều trị.
Phụ nữ đang cho con bú
DEMAKGON 1% CREAM chống chỉ định
trong thời kỳ cho con
bú.
8.
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC
DEMAKGON 1% CREAM không ảnh hưởng đến khả năng vận hành máy móc, tàu xe.
9. TƯƠNG TÁC, TƯƠNG
KỴ CỦA THUỐC
Bao cao su
nam latex
Nguy cơ rách
bao cao su khi sử dụng với
các chất béo hoặc chất bôi trơn có
chứa dầu khoáng.
Thuốc diệt tinh
trùng
Bất kỳ phương pháp điều trị tại chỗ nào trong âm đạo đều có khả năng
làm mất tác dụng của biện pháp tránh thai diệt tinh trùng tại chỗ.
Do sử dụng qua đường âm đạo
và sự hấp thu toàn thân tối thiểu, các tương tác có liên quan về mặt lâm sàng của DEMAKGON
1% CREAM với các thuốc
khác khó có thể xảy ra. Tuy nhiên,
cần tính đến khả năng tương tác với các phương pháp điều trị tại chỗ thông qua bôi âm hộ hoặc âm đạo khác.
10.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC
Danh sách các tác dụng không
mong muốn
Tần số tác dụng không mong muốn được
sắp xếp theo quy ước sau:
Thường gặp (≥1/100 đến
<1/10); Ít gặp (≥1/1.000 đến <1/100); Hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000); Rất hiếm gặp (<1/10.000); Không rõ (không thể
ước tính từ dữ liệu hiện có).
Bảng 1: Tác dụng không mong muốn dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng và
kinh nghiệm sau khi thuốc lưu hành trên thị trường
Hệ cơ quan
|
Thường gặp
|
Ít gặp
|
Hiếm gặp
|
Rất hiếm
gặp
|
Không rõ
|
Rối loạn hệ
thống miễn dịch
|
|
|
|
Khả năng
dị ứng
|
|
Rối loạn da và
mô dưới
da
|
|
|
|
Ngứa cục bộ
|
|
Các rối loạn
chung
|
|
|
|
Kích ứng
|
|
Rối loạn hệ
thống sinh sản và tuyến vú
|
|
|
|
|
Chảy máu âm đạo
|
Ung thư buồng
trứng
Việc sử dụng
HRT toàn thân có liên quan đến việc tăng nhẹ nguy cơ ung
thư buồng trứng.
Một
phân tích tổng hợp của 52 nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tăng nguy cơ ung thư
buồng trứng ở phụ nữ sử dụng
HRT toàn thân so với những người chưa bao giờ sử dụng nó (RR 1,43, KTC 95%: 1,31; 1,56). Đối với phụ nữ
từ 50 đến 54 tuổi sử dụng HRT trong 5 năm, điều này dẫn đến một trường hợp bổ sung trên 2.000 người dùng. Ở phụ nữ từ 50 đến 54 tuổi không sử dụng
HRT, khoảng 2 trong số 2.000 phụ nữ sẽ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng
trong khoảng thời gian 5 năm.
Nguy cơ huyết
khối tĩnh mạch
HRT toàn thân có liên quan đến việc tăng 1,3 đến 3 lần nguy cơ tương đối phát triển huyết khối tĩnh mạch (VTE), bao gồm huyết khối
tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi. Tình trạng này có nhiều khả năng xảy ra
trong năm đầu tiên sử dụng HRT.
Nguy cơ đột quỵ do thiếu
máu cục bộ
- Việc sử dụng HRT toàn thân có liên quan đến việc tăng tới 1,5 lần nguy cơ
đột quỵ do thiếu máu cục bộ.
Nguy cơ đột quỵ do chảy máu không tăng trong quá trình sử dụng HRT.
- Nguy cơ này không phụ thuộc vào tuổi hoặc thời gian
sử dụng, nhưng vì nguy cơ
cơ bản của đột quỵ phụ thuộc rất nhiều vào tuổi, nên nguy cơ tổng thể
ở phụ nữ sử dụng HRT sẽ tăng theo tuổi.
Các tác dụng phụ
khác đã được báo cáo khi
sử dụng liệu pháp estrogen-progestogen toàn thân:
• Rối loạn mật;
• Rối loạn da và mô dưới da: rám má, hồng ban nút, hồng ban đa dạng,
ban xuất huyết mạch máu;
• Nguy cơ sa sút trí tuệ nếu bắt đầu điều trị sau 65
tuổi.
11.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ
Do sử dụng bằng đường âm đạo nên
gần như không có nguy cơ xảy ra quá liều
khi điều trị với
DEMAKGON 1% CREAM. Tuy nhiên,
việc sử dụng quá nhiều
có thể dẫn đến trầm trọng thêm các tác dụng phụ tại chỗ như kích
ứng, ngứa và bỏng âm hộ.
Ngưng sử dụng nêu nghỉ ngờ quá liều.
12. ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC
Nhóm dược lý: estrogen
dùng tại chỗ. Mã ATC: G03CA
Promestriene có tác dụng estrogen
tại chỗ lên niêm mạc của đường sinh dục dưới cho nên phục hồi được sự dinh dưỡng của niêm mạc. Promestriene chỉ được sử dụng tại chỗ và do đó không có tác dụng estrogen trên các cơ quan ở
xa, đặc biệt ở tử cung, vú và tuyến yên.
13.
ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG
HỌC
Khi sử dụng
tại chỗ ở người, promestriene có 3 đặc tính riêng biệt:
-
Không tích
lũy ở mô và thời gian bán thải sinh học
không quá 24 giờ.
- Khi bôi lên
da, dưới 1% promestriene chuyển qua hệ thống da.
- Khi
sử dụng đường âm đạo, không thấy có tác dụng hormone toàn thân, nhất là các cơ
quan nhạy cảm estrogen ở xa ngoài âm đạo. Khi sử dụng bằng đường toàn thân cho
động vật, promestriene, là một estradiol dietheroxide, sẽ trải qua sự khử alkyl để phóng thích 2 monoether (ở vị trí 3 và 17 beta) được đào
thải nguyên dạng hoặc một phần bị biến đổi thanh estradiol.
14.
QUY CÁCH ĐÓNG GÓI
Hộp 1 tuýp 10 g,
hộp 1 tuýp 15 g.
15.
ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN
Nơi khô, nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng
16.
HẠN DÙNG:
24 tháng kể từ ngày sản xuất
17.
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG:
TCCS
18.
TÊN, ĐỊA CHỈ CỦA CƠ
SỞ SẢN XUẤT THUỐC
Cơ sở sản xuất:
CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Địa chỉ: Lô B1-10, đường D2, khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh