Rx Thuốc
này chỉ dùng theo đơn thuốc
Đọc kỹ hướng dẫn sử
dụng trước khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
Montelukast
5 mg
1. Thành phần công thức thuốc:
Mỗi viên nén nhai chứa:
- Thành phần dược
chất: Montelukast (dưới dạng montelukast natri) ………… 5 mg
- Thành phần tá dược: Mannitol (Pearlitol 160C), Compri M3, Low-substituted Hydroxypropyl cellulose
(L-HPC) LH11, Polyethylen glycol (PEG) 6000 (Polyglykol 6000 PF), Sodium starch glycolate, Aspartam, Mùi dâu bột, Magnesium stearate, Colloidal silicon dioxide
(Aerosil® 200).
2. Dạng bào chế: Viên nén nhai.
Mô tả
sản phẩm: Viên nén tròn, màu trắng, một mặt trơn, một mặt có vạch ngang.
3. Chỉ định
RIXAMIC được
chỉ định:
- Cho trẻ em từ 2-14
tuổi dự phòng và điều trị hen phế quản mạn tính, bao gồm dự phòng cả các triệu
chứng hen ban ngày và ban đêm, điều trị người hen nhạy cảm với aspirin.
- Cho trẻ em từ 2-14
tuổi dự phòng cơn co thắt phế quản do gắng sức.
- Để làm giảm các triệu chứng ban ngày và ban đêm của viêm mũi dị
ứng (viêm mũi dị ứng theo mùa và viêm mũi dị ứng quanh năm cho trẻ em từ 2-14
tuổi).
4. Liều dùng và cách dùng
Liều
dùng:
- Trẻ em 6-14 tuổi
bị hen, co thắt phế quản do gắng sức và/hoặc viêm mũi dị ứng
Liều cho trẻ em 6-14 tuổi là mỗi
ngày một viên nhai 5 mg. Nhai viên nén trước khi nuốt.
- Trẻ em 2-5 tuổi bị hen, co
thắt phế quản do gắng sức và/hoặc viêm mũi dị ứng
Liều cho trẻ em 2-5 tuổi là mỗi
ngày một viên nhai 4 mg. Nhai viên nén trước khi nuốt.
Khuyến
cáo chung
Hiệu lực điều trị của montelukast dựa
vào các thông số kiểm tra hen sẽ đạt trong một ngày. Có thể dùng viên nén nhai
montelukast cùng hoặc không cùng thức ăn. Cần dặn người bệnh tiếp tục dùng
montelukast mặc dù cơn hen đã bị khống chế, cũng như trong các thời kì bị hen
nặng hơn.
Không cần điều chỉnh liều cho bệnh
nhi, cho người cao tuổi, người suy thận, người suy gan nhẹ
và trung bình, hoặc cho từng giới
tính.
Điều
trị montelukast liên quan tới các thuốc chữa hen khác
Montelukast
có thể dùng phối hợp cho bệnh nhân đang theo các chế độ điều trị khác.
Giảm
liều các thuốc phối hợp:
- Thuốc giãn phế quản: Có thể
thêm montelukast vào chế độ điều trị cho người bệnh chưa được kiểm soát đầy đủ
chỉ bằng thuốc giãn phế quản. Khi có chứng cớ đáp ứng lâm sàng (thường sau liều
đầu tiên), có thể giảm liều thuốc giãn phế quản nếu dung nạp được.
- Corticosteroid dạng hít: Dùng kết hợp với montelukast mang thêm lợi ích điều trị cho bệnh nhân
đang dùng corticosteroid dạng hít. Có thể giảm liều corticosteroid nếu dung nạp
được. Tuy nhiên, liều corticosteroid phải giảm dần dần dưới sự giám sát của bác
sỹ. Ở một số bệnh nhân, liều lượng corticosteroid dạng hít có thể rút khỏi hoàn
toàn. Không nên thay thế đột ngột thuốc corticosteroid dạng hít bằng montelukast.
Cách
dùng:
- Nhai viên nén trước khi nuốt. Có
thể dùng cùng hoặc không cùng thức ăn.
- Đối với bệnh nhân hen phế quản,
nên dùng thuốc vào buổi tối.
- Đối với viêm mũi dị ứng, thời
gian dùng thuốc tùy theo nhu cầu của từng bệnh nhân.
- Với người bệnh vừa hen vừa viêm
mũi dị ứng nên dùng mỗi ngày một liều vào buổi tối.
5. Chống chỉ định
- Quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần
nào của thuốc.
6. Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc
Chưa xác định được hiệu lực khi
uống montelukast trong điều trị các cơn hen cấp tính. Vì vậy, không nên dùng
montelukast các dạng uống để điều trị các cơn hen cấp. Người bệnh cần được dặn
dò dùng cách điều trị thích hợp sẵn có.
Có thể phải giảm corticosteroid
dạng hít dần dần với sự giám sát của bác sỹ, nhưng không được thay thế đột ngột
corticosteroid dạng uống hoặc hít bằng montelukast.
Đã có báo cáo về các tác dụng thần
kinh – tâm thần ở người bệnh dùng montelukast (xem phần Tác dụng không mong
muốn của thuốc). Vì có các yếu tố khác có thể góp phần vào các tác dụng
này, nên vẫn chưa biết rõ liệu các tác dụng này có liên quan đến montelukast
hay không. Bác sỹ nên thảo luận các tác dụng bất lợi này với người bệnh và/hoặc
người chăm sóc bệnh nhân. Nên chỉ dẫn người bệnh và/hoặc người chăm sóc bệnh
nhân việc thông báo cho bác sỹ biết nếu các tác dụng này xảy ra.
Trong một số trường hợp hiếm gặp,
bệnh nhân dùng thuốc trị hen, bao gồm thuốc đối kháng thụ thể leukotriene, đã
gặp một hoặc nhiều phản ứng sau đây: tăng bạch cầu ưa eosin, phát ban viêm
mạch, làm nặng hơn các triệu chứng ở phổi, các biến chứng ở tim và/hoặc bệnh
thần kinh đôi khi được chẩn đoán là hội chứng Churg-Strauss là viêm mạch tăng
bạch cầu ưa eosin hệ thống. Các trường hợp này đôi khi có liên quan tới sự giảm
hoặc ngừng liệu pháp corticosteroid đường uống. Mặc dù chưa xác định được mối
quan hệ nhân quả với chất đối kháng thụ thể leukotriene, cần thận trọng và theo
dõi chặt chẽ lâm sàng khi dùng montelukast.
Điều trị bằng montelukast vẫn yêu cầu
tránh sử dụng aspirin và các thuốc chống viêm non-steroid
khác ở bệnh nhân hen phế quản nhạy
cảm với aspirin.
Sử dụng cho trẻ em
Montelukast đã được nghiên cứu trên
bệnh nhi từ 6 tháng đến 14 tuổi (xem phần Liều dùng và cách dùng). Chưa
có nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả của thuốc trên bệnh nhi dưới 6 tháng
tuổi. Các nghiên cứu cho thấy montelukast không ảnh hưởng lên tỷ lệ phát triển
của trẻ em.
Sử dụng cho người
cao tuổi
Trong các nghiên cứu lâm sàng,
không thấy có khác biệt gì về tính an toàn và hiệu quả của montelukast liên
quan đến tuổi tác.
Cảnh báo tá dược
RIXAMIC có
chứa:
- Sucrose (Compri M3):
Có thể gây hại cho răng. Bệnh nhân mắc các vấn đề di truyền hiếm gặp về không
dung nạp fructose, kém hấp thu glucose-galactose hoặc thiếu hụt
sucrase-isomaltase không nên dùng thuốc này.
- Aspartam: Sản phẩm
này chứa 2,10 mg aspartam trong mỗi viên. Aspartam là một
nguồn phenylalanin và có thể gây nguy hiểm cho người bị phenylketonuria (PKU),
một bệnh di truyền hiếm gặp do cơ thể không thể đào thải chất này. Không có dữ
liệu lâm sàng hoặc phi lâm sàng liên quan đến việc sử dụng aspartam ở trẻ em
dưới 12 tuần tuổi.
- Natri: Ít
hơn 1 mmol natri (23 mg) trong mỗi viên, có thể xem như “không chứa natri”.
7. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú
Phụ nữ
có thai:
Chỉ sử dụng montelukast khi mang
thai khi thật cần thiết. Dữ liệu có sẵn từ các nghiên cứu đoàn hệ
tiến cứu và hồi cứu được công bố
với việc sử dụng montelukast ở phụ nữ mang thai đánh giá dị
tật bẩm sinh lớn không xác lập được
nguy cơ liên quan đến thuốc. Các nghiên cứu có sẵn có
những hạn chế về phương pháp, bao
gồm cỡ mẫu nhỏ, trong một số trường hợp thu thập dữ liệu
hồi cứu và các nhóm so sánh không
nhất quán.
Phụ nữ
cho con bú:
Chưa rõ sự bài tiết của montelukast
qua sữa mẹ. Vì thuốc này có thể bài tiết qua sữa mẹ, nên người mẹ cần thận
trọng khi dùng montelukast trong thời kỳ cho con bú.
8. Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Montelukast dự kiến sẽ không ảnh
hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Tuy nhiên, phản ứng của từng cá
nhân đối với thuốc có thể khác nhau. Một số tác dụng không mong muốn (như chóng
mặt và buồn ngủ) đã được báo cáo với montelukast có thể ảnh hưởng đến khả năng
lái xe và vận hành máy móc trên một số bệnh nhân.
9. Tương tác, tương kỵ của
thuốc
Tương tác thuốc:
Có thể dùng montelukast với các thuốc thường dùng khác trong dự phòng và
điều trị mạn tính bệnh hen và điều trị viêm mũi dị ứng. Trong các nghiên cứu về
tương tác thuốc, thấy liều khuyến cáo trong điều trị của montelukast không có
ảnh hưởng đáng kể trên lâm sàng tới dược động học của các thuốc sau:
theophylline, prednisone, prednisolone, thuốc uống ngừa thai (ethinyl estradiol/norethindrone
35/1), terfenadine, digoxin và warfarin.
Phenobarbital, chất gây chuyển hóa ở gan, làm giảm diện tích dưới đường
cong trong huyết tương (AUC) của montelukast xấp xỉ 40% khi dùng một liều duy
nhất montelukast 10 mg. Không khuyến
cáo điều chỉnh liều montelukast. Cần thực hiện theo dõi lâm sàng thích
hợp khi chất gây cảm ứng enzyme CYP mạnh như phenobarbital hoặc rifampicin đang
dùng đồng thời cùng montelukast.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy montelukast là chất ức chế CYP
2C8. Tuy nhiên dữ liệu từ các nghiên cứu tương tác thuốc - thuốc trên lâm sàng
của montelukast và rosiglitazone (là cơ chất đại diện cho các thuốc được chuyển
hóa chủ yếu bởi CYP 2C8) lại cho thấy montelukast không ức chế CYP 2C8 in
vivo. Do đó, montelukast được dự đoán không làm thay đổi quá trình chuyển
hóa của các thuốc được chuyển hóa chủ yếu qua enzyme này (ví dụ như paclitaxel,
rosiglitazone, repaglinide).
Các nghiên cứu in vitro cho thấy montelukast là một cơ chất của
CYP 2C8, 2C9 và 3A4. Dữ liệu từ một nghiên cứu tương tác thuốc - thuốc trên lâm
sàng với sự tham gia của montelukast và gemfibrozil (một chất ức chế cả CYP 2C8
và 2C9) cho thấy gemfibrozil làm tăng mức tiếp xúc toàn thân của montelukast
lên 4,4 lần. Dùng đồng thời itraconazole, một chất ức chế mạnh CYP 3A4 với gemfibrozil
và montelukast không làm tăng thêm mức tiếp xúc toàn thân của montelukast. Ảnh
hưởng của gemfibrozil lên mức tiếp xúc toàn thân của montelukast không được xem
là có ý nghĩa lâm sàng dựa trên dữ liệu an toàn lâm sàng với liều dùng lớn hơn
10 mg được phê duyệt cho người lớn (ví dụ: 200 mg/ngày ở bệnh nhân người lớn
trong 22 tuần và lên tới 900 mg/ngày trong gần một tuần), không quan sát thấy
các tác dụng không mong muốn có ý nghĩa lâm sàng. Do vậy, không cần điều chỉnh
liều montelukast ở bệnh nhân dùng đồng thời với gemfibrozil. Dựa trên dữ liệu in
vitro, những tương tác thuốc quan trọng về mặt lâm sàng với các thuốc ức
chế CYP 2C8 đã biết (như trimethoprim) không được dự đoán trước. Thêm vào đó,
dùng đồng thời montelukast với một mình itraconazole không làm tăng đáng kể mức
tiếp xúc toàn thân của montelukast.
Tương kỵ thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn
thuốc này với các thuốc khác.
10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
Montelukast đã được đánh giá trong
các nghiên cứu lâm sàng ở những bệnh nhân bị hen dai dẳng như sau:
- Viên nén bao phim 10 mg ở khoảng
4.000 bệnh nhân người lớn và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
- Viên nén nhai 5 mg ở khoảng 1.750
bệnh nhân trẻ em từ 6-14 tuổi.
- Viên nén nhai 4 mg ở 851 bệnh
nhân trẻ em từ 2-5 tuổi.
- Cốm 4 mg ở 175 bệnh nhân trẻ em
từ 6 tháng - 2 tuổi.
Montelukast đã được đánh giá trong
một nghiên cứu lâm sàng ở những bệnh nhân bị hen ngắt quãng như sau:
- Cốm và viên nén nhai 4 mg ở 1.038
bệnh nhân trẻ em từ 6 tháng - 5 tuổi
Montelukast đã được đánh giá trong
một nghiên cứu lâm sàng ở những bệnh nhân bị hen kèm viêm mũi dị ứng theo mùa
như sau:
- Viên nén bao phim 10 mg ở khoảng
400 bệnh nhân người lớn và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên.
Các phản ứng bất lợi liên quan đến
thuốc sau đây trong các nghiên cứu lâm sàng đã được báo cáo thường gặp (≥ 1/100
đến < 1/10) ở những bệnh nhân được điều trị bằng montelukast và với tỷ lệ mắc
cao hơn so với ở những bệnh nhân được điều trị bằng giả dược:
|
Nhóm hệ cơ quan
|
Người lớn và thiếu niên từ 15 tuổi trở lên
(2 nghiên cứu 12 tuần; n=795)
|
Bệnh nhân trẻ em 6-14 tuổi
(1 nghiên cứu 8 tuần; n=201)
(2 nghiên cứu 56 tuần; n=615)
|
Bệnh nhân trẻ em 2-5 tuổi
(1 nghiên cứu 12 tuần; n=461)
(1 nghiên cứu 48 tuần; n=278)
|
Bệnh nhân trẻ em 6 tháng - 2 tuổi
(1 nghiên cứu 6 tuần; n=175)
|
|
Rối loạn hệ thần kinh
|
Nhức đầu
|
Nhức đầu
|
-
|
Tăng vận động
|
|
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
|
-
|
-
|
-
|
Hen
|
|
Rối loạn tiêu hóa
|
Đau bụng
|
-
|
Đau bụng
|
Tiêu chảy
|
|
Rối loạn da và mô dưới da
|
-
|
-
|
-
|
Viêm da eczema
Phát ban
|
|
Rối loạn toàn
thân và tình trạng tại chỗ dùng thuốc
|
-
|
-
|
Khát
|
-
|
Với điều trị kéo dài trong các thử
nghiệm lâm sàng trên số lượng bệnh nhân hạn chế trong thời gian đến 2 năm đối
với người lớn và đến 12 tháng đối với bệnh nhân trẻ em từ 6-14 tuổi, hồ sơ về
an toàn không thay đổi.
Về mặt tổng thể, 502 bệnh nhân trẻ
em từ 2-5 tuổi được điều trị bằng montelukast trong ít nhất 3 tháng, 338 bệnh
nhân trong 6 tháng hoặc lâu hơn và 534 bệnh nhân trong 12 tháng hoặc lâu hơn.
Với điều trị kéo dài, hồ sơ về an toàn cũng không thay đổi ở những bệnh nhân
này.
Hồ sơ về an toàn ở bệnh nhân trẻ em
từ 6 tháng - 2 tuổi không thay đổi khi điều trị đến 3 tháng.
Nói chung montelukast dung nạp tốt.
Các tác dụng ngoại ý thường nhẹ và thường không cần ngừng thuốc. Tỷ lệ chung
của các tác dụng ngoại ý của montelukast tương đương với nhóm placebo.
Trẻ em từ 2 tuổi
đến 14 tuổi bị viêm mũi dị ứng theo mùa
Đã có nghiên cứu đánh giá montelukast
trên 280 bệnh nhi 2-14 tuổi để điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa trong các
nghiên cứu lâm sàng có đối chứng placebo trong 2 tuần. Dùng montelukast một lần
mỗi ngày vào buổi tối thường dung nạp tốt với thuộc tính an toàn tương đương
với nhóm placebo. Trong nghiên cứu này, các tác dụng ngoại ý không liên quan
đến thuốc được ghi nhận ở ≥1% bệnh nhân dùng montelukast và có tỷ lệ cao hơn so
với nhóm placebo.
Phân tích tổng hợp
từ kinh nghiệm thử nghiệm lâm sàng
Đã tiến hành phân tích tổng hợp 41
thử nghiệm lâm sàng có đối chứng placebo (gồm 35 nghiên cứu ở bệnh nhân ≥ 15
tuổi và 6 nghiên cứu ở bệnh nhi 6-14 tuổi) bằng phương pháp đánh giá hợp lệ về
tình trạng tự tử. Trong số 9929 bệnh nhân dùng montelukast và 7780 bệnh nhân
dùng placebo trong các nghiên cứu này, chỉ có một bệnh nhân có ý tưởng tự tử ở
nhóm dùng montelukast. Không có các trường hợp nào đã tiến hành tự sát hoặc mưu
tính tự tử hoặc có các hành động chuẩn bị hướng đến hành vi tự tử ở cả hai nhóm
điều trị.
Đã tiến hành một phân tích tổng hợp
riêng rẽ khác từ 46 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng placebo (35 nghiên cứu ở bệnh
nhân ≥ 15 tuổi, 11 nghiên cứu ở bệnh nhi từ 3 tháng đến 14 tuổi) đánh giá các
tác dụng bất lợi liên quan đến hành vi (BRAE). Trong số 11.673 bệnh nhân dùng montelukast
và 8.827 bệnh nhân dùng placebo ở các nghiên cứu này, tỷ lệ bệnh nhân có ít
nhất 1 BRAE ở nhóm dùng montelukast và placebo lần lượt là 2,73% và 2,27%; với
tỉ số chênh là 1,12 (95% CI [0,93; 1,36]).
Các thử nghiệm lâm sàng trong các
phân tích tổng hợp này không phải được thiết kế chuyên biệt để đánh giá hành vi
tự tử hoặc BRAE.
Bảng liệt kê các tác
dụng không mong muốn
Các phản ứng không mong muốn được
báo cáo trong sử dụng hậu mãi được liệt kê theo nhóm hệ cơ quan và các phản ứng
bất lợi đặc hiệu, trong bảng dưới đây. Loại tần suất được ước tính dựa trên các
thử nghiệm lâm sàng liên quan.
|
Nhóm hệ cơ quan
|
Tác dụng không mong muốn
|
Loại tần suất*
|
|
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
|
Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên†
|
Rất thường gặp
|
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
|
Tăng xu hướng chảy máu
|
Hiếm gặp
|
|
Giảm tiểu cầu
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn hệ miễn dịch
|
Phản ứng quá mẫn bao gồm phản vệ
|
Ít gặp
|
|
Thâm nhiễm bạch cầu ưa eosin ở gan
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn tâm thần
|
Giấc mơ bất
thường bao gồm ác mộng, mất ngủ, mộng du, lo lắng, kích động bao gồm hành vi
hung hăng hoặc thù địch, trầm cảm, tăng động tâm lý (bao gồm cáu kỉnh, bồn
chồn, run§)
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn chú ý,
suy giảm trí nhớ, tật máy giật (tic)
|
Hiếm gặp
|
|
Ảo giác, mất định
hướng, suy nghĩ và hành vi tự tử, triệu chứng ám ảnh cưỡng chế, chứng khó nói
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn hệ thần kinh
|
Chóng mặt, buồn
ngủ, dị cảm/giảm cảm giác, co giật
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn tim
|
Đánh trống ngực
|
Hiếm gặp
|
|
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
|
Chảy máu cam
|
Ít gặp
|
|
Hội chứng Churg
- Strauss (CSS) (xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)
|
Rất hiếm gặp
|
|
Tăng bạch cầu ưa
eosin ở phổi
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn tiêu hóa
|
Tiêu chảy‡, buồn nôn‡, nôn‡
|
Thường gặp
|
|
Khô miệng, khó
tiêu
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn gan mật
|
Tăng nồng độ
transaminase huyết thanh (ALT, AST)
|
Thường gặp
|
|
Viêm gan (bao
gồm viêm gan ứ mật, tổn thương tế bào gan và mô gan hỗn hợp)
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn da và mô dưới da
|
Phát
ban‡
|
Thường gặp
|
|
Bầm tím, nổi mày
đay, ngứa
|
Ít gặp
|
|
Phù mạch
|
Hiếm gặp
|
|
Chứng đỏ da, hồng
ban đa dạng
|
Rất hiếm gặp
|
|
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
|
Đau khớp, đau cơ
bao gồm chuột rút cơ
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn thận và
tiết niệu
|
Đái dầm ở trẻ em
|
Ít gặp
|
|
Rối loạn chung và tình trạng cơ thể
|
Sốt‡
|
Thường gặp
|
|
Suy nhược/mệt
mỏi, khó chịu, phù nề
|
Ít gặp
|
* Loại tần suất: Được xác định đối
với từng tác dụng không mong muốn theo tỷ lệ được báo cáo trong cơ sở dữ liệu
của các thử nghiệm lâm sàng: Rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến
< 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến <
1/1.000); rất hiếm gặp (< 1/10.000).
† Tác dụng không mong muốn này, được
báo cáo là “Rất thường gặp” ở bệnh nhân dùng montelukast, cũng được báo cáo là “Rất
thường gặp” ở bệnh nhân dùng giả dược trong các thử nghiệm lâm sàng.
‡ Tác dụng không mong muốn này, được
báo cáo là “Thường gặp” ở bệnh nhân dùng montelukast, cũng được báo cáo là “Thường
gặp” ở bệnh nhân dùng giả dược trong các thử nghiệm lâm sàng.
§ Loại
tần suất: Hiếm gặp.
Báo cáo các phản ứng có hại
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược
sĩ khi gặp các tác dụng không mong muốn như trên khi sử dụng thuốc hoặc báo cáo
các phản ứng có hại của thuốc về Trung tâm Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng
có hại của thuốc (ADR) Quốc Gia. Địa chỉ: 13 - 15 Lê Thánh Tông - Phường Cửa
Nam - Hà Nội. Điện thoại: 0243 9335 618; Fax: 0243 9335642; Email:
di.pvcenter@gmail.com.
11. Quá liều và cách xử trí
Không có thông tin đặc hiệu về việc
điều trị khi dùng quá liều montelukast. Trong các nghiên cứu về hen mạn tính, montelukast
được dùng tới các liều mỗi ngày tới 200 mg cho người lớn trong 22 tuần và nghiên
cứu ngắn ngày với liều tới 900 mg mỗi ngày, dùng trong khoảng một tuần, không thấy
có tác dụng không mong muốn quan trọng trên lâm sàng.
Cũng có những báo cáo về ngộ độc
cấp sau khi đưa thuốc ra thị trường và trong các nghiên cứu lâm sàng với montelukast.
Các báo cáo này bao gồm cả ở trẻ em và người lớn với liều cao nhất lên tới 1000
mg. Những kết quả trong phòng thí nghiệm và trong lâm sàng phù hợp với tổng
quan về độ an toàn ở người lớn và các bệnh nhi. Trong phần lớn các báo cáo về
quá liều, không gặp các tác dụng không mong muốn. Những phản ứng hay gặp nhất
cũng tương tự như dữ liệu về thuộc tính an toàn của montelukast bao gồm đau
bụng, buồn ngủ, khát, đau đầu, nôn và tăng kích động.
Chưa rõ montelukast có thể thẩm
tách được qua màng bụng hay lọc máu.
12. Đặc tính dược lực học
Nhóm
dược lý:
Thuốc uống đối kháng chọn lọc trên thụ thể (receptor) của leukotriene, ức chế
đặc hiệu thụ thể cysteinyl leukotriene CysLT1.
Mã ATC: R03D C03.
Cơ chế tác dụng
Các cysteinyl leukotriene (LTC4,
LTD4, LTE4) là những eicosanoid có tiềm năng gây viêm
mạnh, được tiết ra từ nhiều loại tế bào, bao gồm tế bào hạt và bạch cầu ưa
eosin. Các chất trung gian quan trọng tiền hen này được gắn vào các thụ thể
cysteinyl leukotriene (CysLT). Các thụ thể CysLT týp 1 (CysLT1) được
tìm thấy trong đường thở của người, bao gồm các tế bào cơ trơn và đại thực bào
của đường thở và trong các tế bào tiền viêm khác (bao gồm bạch cầu ưa eosin và
một số tế bào gốc tủy xương). CysLT có liên quan với cơ chế sinh bệnh của hen
và viêm mũi dị ứng. Trong bệnh hen, các tác dụng qua trung gian của leukotriene
bao gồm một số tác dụng lên đường thở, như làm co thắt phế quản, tiết chất
nhày, tăng tính thấm mao mạch và huy động bạch cầu ưa eosin. Trong viêm mũi dị
ứng, CysLT được tiết từ niêm mạc mũi sau khi tiếp xúc với dị nguyên trong các
phản ứng ở các pha nhanh và chậm và có liên quan tới các triệu chứng viêm mũi
dị ứng. CysLT trong mũi sẽ làm tăng sự cản trở đường thở và các triệu chứng tắc
nghẽn ở mũi.
Montelukast dạng uống là chất có
tính chống viêm, cải thiện được các thông số về viêm trong hen. Dựa vào các thử
nghiệm về hóa sinh và dược lý, montelukast chứng tỏ có ái lực cao và có độ chọn
lọc với thụ thể CysLT1 (tác dụng này trội hơn ở các thụ thể khác
cũng quan trọng về dược lý, như các thụ thể prostanoid, cholinergic hoặc
β-adrenergic). Montelukast ức chế mạnh các tác dụng sinh lý của LTC4,
LTD4, LTE4 tại thụ thể CysLT1 mà không hề có
tác dụng chủ vận.
Ở bệnh nhân hen, montelukast ức chế
các thụ thể cysteinyl leucotriene ở đường thở chứng minh qua khả năng ức chế sự
co thắt phế quản do hít LTD4. Với các liều dưới 5 mg đã phong bế
được sự co thắt phế quản do LTD4. Montelukast gây giãn phế quản
trong 2 giờ sau khi uống; những tác dụng này hiệp đồng với sự giãn phế quản nhờ
dùng chất chủ vận β.
Nghiên cứu lâm
sàng trong hen
Trong các nghiên cứu lâm sàng, montelukast
có hiệu lực ở bệnh nhân người lớn và trẻ em để ngăn ngừa và điều trị hen mạn
tính, bao gồm ngăn ngừa sự co thắt phế quản do tập luyện. Montelukast có hiệu
lực khi dùng riêng rẽ hoặc khi phối hợp với các thuốc khác trong chỉ định duy
trì để điều trị hen mạn tính. Có thể phối hợp montelukast với corticosteroid
dạng hít, sẽ có tác dụng hiệp đồng để kiểm soát hen hoặc để giảm bớt liều lượng
corticosteroid hít trong khi duy trì sự ổn định lâm sàng.
Người từ 15 tuổi
trở lên
Trong hai nghiên cứu mù kép, kéo
dài 12 tuần, có đối chứng placebo, được thiết kế tương tự nhau, ở bệnh nhân từ 15
tuổi trở lên bị hen, dùng montelukast uống mỗi ngày 1 lần một liều 10 mg vào
buổi tối, cho thấy có cải thiện rõ rệt về các thông số kiểm soát hen đo đạc qua
các triệu chứng hen, hậu quả do hen, chức năng hô hấp và “nhu cầu” sử dụng chất
chủ vận β.
Montelukast cải thiện rõ rệt các
triệu chứng ban ngày qua báo cáo của bệnh nhân và sự thức giấc ban đêm, so sánh
với placebo. Hậu quả đặc hiệu của hen, bao gồm xuất hiện các cơn hen, cần sự
trợ giúp của corticosteroid, ngừng thuốc do cơn hen nặng hơn, cơn kịch phát hen
và số ngày thoát khỏi hen đều được cải thiện rõ so với placebo. Những đánh giá
tổng quát của bác sỹ và người bệnh về hen, cũng như các đánh giá về chất lượng
sống đặc hiệu với bệnh hen (trong mọi lĩnh vực, bao gồm hoạt động bình thường
hàng ngày và các triệu chứng hen) đều tốt hơn rõ rệt so với ở nhóm chứng. Montelukast
cải thiện rõ rệt thể tích thở ra gắng sức trong giây đầu tiên vào buổi sáng
(FEV1), tốc độ thở ra tối đa buổi sáng và buổi chiều (PEFR) và cũng
làm giảm một cách có ý nghĩa nhu cầu thuốc chủ vận β khi so sánh với placebo.
Hiệu quả điều trị thường đạt được
sau liều đầu tiên và duy trì trong khoảng 24 giờ. Hiệu quả điều trị cũng ổn
định khi dùng liên tục mỗi ngày 1 lần trong các thử nghiệm kéo dài tới 1 năm.
Ngừng thuốc sau khi dùng montelukast 12 tuần không gây phản ứng dội ngược làm
bệnh hen nặng thêm.
So sánh với beclomethason dạng hít
(mỗi lần 200 μg, 2 lần mỗi ngày bằng dụng cụ khuếch tán), thấy montelukast có
đáp ứng ban đầu nhanh hơn, mặc dù qua nghiên cứu kéo dài 12 tuần, beclomethason có tác dụng điều
trị trung bình lớn hơn. Tuy nhiên, nhóm dùng montelukast có tỷ lệ phần trăm cao
đạt được đáp ứng lâm sàng tương đương beclomethason dạng hít.
Trẻ em từ 6 tuổi đến 14 tuổi
Trẻ em 6-14 tuổi, dùng một viên nhai 5 mg vào buổi tối làm giảm rõ rệt
cơn kịch phát hen, cải thiện sự đánh giá tổng quát của bố mẹ và chất lượng sống
đặc hiệu do hen ở trẻ em, so sánh với placebo. Montelukast cũng cải thiện rõ
rệt FEV1 buổi sáng, làm giảm tổng “nhu cầu” liều trong ngày của chất
chủ vận β. Hiệu quả điều trị đạt được sau liều đầu tiên và ổn định tới 6 tháng
dùng liên tục, mỗi ngày một lần.
Sự tăng trưởng ở bệnh nhi mắc bệnh hen
Hai nghiên cứu lâm sàng có đối chứng cho thấy montelukast không ảnh hưởng
khả năng phát triển cơ thể ở bệnh nhi trước khi dậy thì mắc bệnh hen. Trong một
nghiên cứu trên trẻ em 6 tuổi đến 11 tuổi, sự phát triển cơ thể được đánh giá
bằng sự phát triển chiều dài cẳng chân, nhóm dùng montelukast 5 mg mỗi ngày một
lần trong 3 tuần cho kết quả tương tự nhóm dùng giả dược, và ở nhóm dùng
budesonid dạng khí dung (200 μg mỗi ngày hai lần) trong 3 tuần thấp hơn một
cách có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược. Trong một nghiên cứu kéo
dài 56 tuần ở trẻ em 6 tuổi đến 8 tuổi, biểu đồ phát triển ở trẻ dùng
montelukast 5 mg mỗi ngày một lần tương tự như nhóm dùng giả dược (giá trị LS
trung bình cho montelukast và giả dược tương ứng là: 5,67 và 5,64 cm/năm), và ở
nhóm dùng beclomethason khí dung (200 μg, mỗi ngày hai lần) thì trị số này thấp
hơn một cách có ý nghĩa (giá trị LS trung bình: 4,86 cm/năm) ở bệnh nhi dùng
khí dung, so với nhóm dùng giả dược [khác biệt giá trị trung bình LS (độ tin
cậy 95%): -0,78 (-1,06; -0,49) cm/năm]. Cả montelukast và beclomethason đều cho
lợi ích lâm sàng trong điều trị bệnh nhân hen nhẹ một cách có ý nghĩa so với
nhóm dùng giả dược.
Trẻ em từ 6 tháng tới 5 tuổi
Trong nghiên cứu 12 tuần, đối chứng placebo ở trẻ em 2-5 tuổi, cho uống montelukast
mỗi ngày một lần 4 mg, đã cải thiện vững bền các thông số kiểm soát hen, không
phụ thuộc vào điều trị phối hợp với thuốc ngừa hen, so sánh với placebo. 60% bệnh
nhân không dùng cách điều trị kiểm soát hen khác. Montelukast cải thiện rõ các
triệu chứng ban ngày (bao gồm ho, khò khè, rối loạn về thở và hạn chế hoạt
động) và các triệu chứng ban đêm khi so sánh với placebo. Montelukast cũng làm
giảm rõ rệt “nhu cầu” thuốc chủ vận β và corticosteroid cấp cứu so với placebo.
Bệnh nhân dùng montelukast có ngày hết hen nhiều hơn một cách có ý nghĩa thống
kê so với bệnh nhân ở nhóm placebo. Hiệu lực điều trị thấy ngay sau liều đầu
tiên. Thêm nữa, số lượng bạch cầu ưa eosin trong máu toàn phần cũng giảm rõ
rệt.
Hiệu lực của montelukast ở trẻ em từ 6 tháng tuổi tới 2 tuổi được ngoại
suy từ kết quả ở bệnh nhi trên 2 tuổi bị hen và dựa vào các dữ liệu dược động
học tương tự cũng như vào liệu trình, sinh lý bệnh học và tác dụng của thuốc về
cơ bản tương đương khi so sánh 2 nhóm tuổi trên đây.
Tác dụng trên bệnh nhân dùng phối hợp corticosteroid
dạng hít
Những nghiên cứu riêng rẽ ở người lớn cho thấy khả năng montelukast phối
hợp với corticosteroid dạng hít có tác dụng hiệp đồng trong lâm sàng và cho
phép giảm liều steroid khi dùng phối hợp. Trong nghiên cứu có đối chứng
placebo, bệnh nhân khởi đầu dùng corticosteroid dạng hít với liều khoảng 1600
μg mỗi ngày, trong giai đoạn sử dụng placebo đã giảm được tỷ lệ sử dụng steroid
khoảng 37%. Hơn nữa, montelukast còn giúp giảm 47% liều corticosteroid dạng hít
so với 30% ở nhóm dùng placebo. Trong một nghiên cứu khác, montelukast đem lại
lợi ích lâm sàng cộng thêm trên các đối tượng được duy trì nhưng không kiểm
soát được thích đáng với corticosteroid dạng hít (400 μg beclomethason mỗi
ngày). Ngừng hoàn toàn và đột ngột beclomethason ở bệnh nhân dùng phối hợp montelukast
với beclomethason gây tác hại về lâm sàng ở một số trường hợp, chứng tỏ nên
ngừng thuốc dần dần theo mức dung nạp hơn là ngừng đột ngột. Với bệnh nhân mẫn
cảm với aspirin, hầu hết trong số đó là khi phối hợp corticosteroid với dạng
hít và/hoặc uống, montelukast đã có cải thiện đáng kể về các thông số kiểm soát
hen.
Tác dụng trên bệnh nhân co thắt phế quản do gắng sức
Montelukast 10 mg uống một lần mỗi ngày sẽ ngăn ngừa được sự co thắt phế
quản do gắng sức ở người từ 15 tuổi trở lên. Trong nghiên cứu 12 tuần, montelukast
cho thấy ức chế rõ rệt mức độ và thời gian giảm sút FEV1 hơn 60 phút
sau gắng sức, phần trăm giảm FEV1 tối đa sau gắng sức và thời gian hồi
phục 5% của FEV1 trước khi gắng sức. Hiệu quả bảo vệ này là hằng
định xuyên suốt quá trình điều trị, chứng tỏ không có tình trạng quen thuốc.
Trong một nghiên cứu bắt chéo riêng biệt, thấy tác dụng bảo vệ này đạt được sau
2 ngày dùng thuốc, mỗi ngày uống một lần. Với bệnh nhi 6-14 tuổi, cho uống viên
nén nhai 5 mg, trong một nghiên cứu bắt chéo tương tự, cũng thấy có tác dụng
bảo vệ như ở người lớn và sự bảo vệ này được duy trì suốt khoảng cách liều (24
giờ).
Tác dụng trên viêm trong hen
Trong các nghiên cứu lâm sàng, montelukast được chứng minh ức chế cả sự
co thắt phế quản ở pha sớm và pha muộn do dị nguyên. Vì sự thâm nhiễm tế bào
viêm (bạch cầu ưa eosin) là đặc trưng quan trọng của bệnh hen, nên đã có khảo
sát ảnh hưởng của montelukast lên bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên và ở đường
thở. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở pha IIb/III, montelukast cho thấy làm giảm
rõ rệt các bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên, giảm 15% so với khởi điểm và so
với placebo. Ở bệnh nhi từ 6 đến 14 tuổi, montelukast làm giảm bạch cầu ưa
eosin ở máu ngoại biên 13% qua 8 tuần điều trị so với nhóm placebo. Montelukast
cũng làm giảm rõ rệt bạch cầu ưa eosin ở đường thở, trong đờm so với nhóm
placebo. Trong nghiên cứu này, lượng bạch cầu ưa eosin ở máu ngoại biên giảm và
tiêu chí đánh giá lâm sàng về hen cải thiện trong nhóm điều trị với montelukast.
Nghiên cứu lâm sàng - Viêm mũi dị ứng
Hiệu lực của montelukast trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa được
nghiên cứu trong các thử nghiệm tương tự ngẫu nhiên, mù kép, kéo dài 2 tuần, có
đối chứng placebo, trên 4924 bệnh nhân (có 1751 người dùng montelukast). Những bệnh
nhân ≥ 15 tuổi, có tiền sử viêm mũi dị ứng theo mùa, xét nghiệm ngoài da dương
tính trong ít nhất một mùa gặp dị nguyên và có những triệu chứng rõ rệt về viêm
mũi dị ứng theo mùa vào lúc khởi đầu công trình nghiên cứu.
Trong một phân tích phối hợp của 3 nghiên cứu chủ chốt, sử dụng montelukast
viên nén 10 mg cho 1189 bệnh nhân (mỗi ngày 1 lần vào buổi tối) làm cải thiện
rõ rệt các tiêu chí chính, chỉ số các triệu chứng ở mũi lúc ban ngày và các
biểu hiện lâm sàng (như xung huyết mũi, chảy nước mũi, ngứa mũi, hắt hơi); chỉ
số các triệu chứng ban đêm (như xung huyết mũi khi thức, khó ngủ, thức giấc
nhiều lần ban đêm); chỉ số tổng hợp các triệu chứng (bao gồm cả hai chỉ số
triệu chứng mũi ban ngày và ban đêm); và qua đánh giá tổng quát của bệnh nhân
và bác sỹ về viêm mũi dị ứng so với placebo.
Trong một nghiên cứu 4 tuần khác, montelukast mỗi ngày 1 lần vào buổi
sáng cho thấy hiệu lực trong 2 tuần đầu mạnh hơn rõ rệt so với placebo và phù
hợp với hiệu lực ghi nhận trong các nghiên cứu dùng liều vào buổi tối. Hơn nữa,
hiệu lực qua toàn bộ 4 tuần cũng nhất quán với kết quả của 2 tuần.
Với bệnh nhân trên 15 tuổi bị viêm mũi dị ứng theo mùa, montelukast cho
thấy làm giảm trung bình 13% lượng bạch cầu ưa eosin trong máu ngoại biên so
với placebo, qua các thời kỳ điều trị mù kép.
Hiệu lực của montelukast điều trị viêm mũi dị ứng quanh năm được nghiên
cứu trong hai nghiên cứu có đối chứng placebo, thiết kế tương tự, chia nhóm
ngẫu nhiên, mù kép kéo dài 6 tuần, trên 3235 bệnh nhân (trong đó 1632 người
dùng montelukast). Tuổi bệnh nhân là 15-82 tuổi có tiền sử viêm mũi dị ứng
quanh năm, xét nghiệm da kết quả dương tính do dị nguyên quanh năm (bao gồm dị
nguyên bụi nhà, lông động vật, bào tử mốc) và có các triệu chứng nổi bật về
viêm mũi dị ứng quanh năm khi khởi đầu điều trị.
Trong một nghiên cứu, montelukast 10 mg sử dụng 1 lần mỗi ngày cho 1000
bệnh nhân được chứng minh cải thiện rõ rệt về tiêu chí chính, các chỉ số về
triệu chứng ở mũi ban ngày (xung huyết mũi, chảy nước mũi, hắt hơi) so với
placebo. Montelukast cũng cho thấy cải thiện viêm mũi dị ứng qua đánh giá của
bệnh nhân như nêu trong tiêu chí phụ về Đánh Giá Toàn Cầu triệu chứng Viêm Mũi
Dị Ứng bởi Bệnh Nhân và thang điểm đánh giá chung Chất Lượng Cuộc Sống Trong
Bệnh Viêm Kết Mạc-Mũi (trung bình điểm số của 7 lĩnh vực hoạt động: giấc ngủ,
các triệu chứng không-mũi/không-mắt, các vấn đề trong thực hành, các triệu
chứng ở mũi, các triệu chứng ở mắt, cảm xúc) so sánh với placebo.
Hiệu lực của montelukast trong điều trị viêm mũi dị ứng theo mùa ở bệnh
nhi 2-14 tuổi và trong điều trị viêm mũi dị ứng quanh năm ở bệnh nhi 6 tháng
đến 14 tuổi được chứng minh bằng cách ngoại suy từ hiệu lực của thuốc này ở bệnh
nhân ≥ 15 tuổi bị viêm mũi dị ứng cùng với giả định là diễn biến bệnh, bệnh học
và tác dụng của thuốc về cơ bản đều giống nhau ở các quần thể này.
13. Đặc tính dược động lực
Hấp thu
Sau khi uống, montelukast được hấp
thu nhanh và hầu như hoàn toàn. Với viên nén bao phim 10 mg, nồng độ Cmax
đạt được 3 giờ (Tmax) sau uống đối với người lớn, uống thuốc lúc
bụng đói. Sinh khả dụng khi dùng thuốc đường uống là 64%. Sinh khả dụng và Cmax
không bị ảnh hưởng bởi bữa ăn chuẩn.
Với viên nén nhai 5 mg, Cmax
đạt 2 giờ sau khi người lớn uống lúc đói. Sinh khả dụng khi uống là 73% và giảm xuống 63% trong một bữa ăn
tiêu chuẩn. Thức ăn không có ảnh hưởng lớn trong lâm sàng khi dùng thuốc dài
ngày.
Với viên nén nhai 4 mg, nồng độ Cmax
đạt được 2 giờ sau uống đối với bệnh nhi 2-5 tuổi, uống thuốc lúc đói.
Dạng cốm uống 4 mg có tương đương
sinh học với viên nén nhai 4 mg khi dùng cho người lớn lúc đói. Việc dùng
montelukast dạng cốm hạt chung với nước sốt táo hoặc trong bữa ăn chuẩn không
gây ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào tới dược động học của thuốc xác định bởi
diện tích dưới đường cong AUC (1225,7 so với 1223,1 ng*giờ/mL có hoặc không có
kèm nước sốt táo và 1191,8 so với 1148,5 ng*giờ/mL có hoặc không có kèm bữa ăn
chuẩn).
Hiệu lực và độ an toàn đã được
chứng minh qua các nghiên cứu lâm sàng, khi dùng viên nén nhai 4 mg, viên nén
nhai 5 mg, viên nén bao phim 10 mg, uống không tính đến thời gian bữa ăn. Độ an
toàn của montelukast cũng được chứng minh trong nghiên cứu lâm sàng đối với
uống dạng cốm hạt 4 mg mà không tính đến thời gian bữa ăn.
Phân bố
Hơn 99% montelukast gắn kết với
protein huyết tương. Thể tích phân bố (Vd) trong trạng thái ổn định của
montelukast là 8-11 lít. Nghiên cứu trên chuột cống với montelukast đánh dấu
cho thấy thuốc rất ít phân bố qua hàng rào máu não. Hơn nữa, nồng độ của chất
đánh dấu sau khi uống 24 giờ là tối thiểu trong mọi mô khác.
Sinh chuyển hóa
Montelukast chuyển hóa rất mạnh. Trong các nghiên cứu với liều điều trị, các
nồng độ trong huyết
tương của các chất chuyển hóa của
montelukast không tìm thấy được trong trạng thái ổn định ở
người lớn và trẻ em.
Nghiên cứu in vitro, sử dụng
microsome gan người, cho thấy cytochrome P450 3A4 và 2C9 tham gia vào quá trình
chuyển hóa của montelukast. Dựa vào các kết quả khác in vitro trên
microsome gan người, thấy các nồng độ điều trị của montelukast trong huyết
tương không ức chế các cytochromes P450 3A4, 2C9, 1A2, 2A6, 2C19 hay 2D6.
Thải trừ
Độ thanh lọc của montelukast trong
huyết tương là 45 mL/phút ở người lớn khỏe mạnh. Sau khi
uống montelukast đánh dấu, 86% chất
đánh dấu được tìm thấy trong phân của tổng cộng 5 ngày và dưới 0,2% thải qua
nước tiểu. Điều này cùng với sự tính toán sinh khả dụng của montelukast dùng
đường uống cho thấy montelukast và các chất chuyển hóa của thuốc được thải gần
như hoàn toàn qua mật.
Trong một số nghiên cứu, thời gian
bán thải trong huyết tương của montelukast là 2,7-5,5 giờ ở người trẻ tuổi khỏe
mạnh. Dược động học của montelukast hầu như tuyến tính khi uống tới liều 50 mg.
Không có sự khác biệt về dược động học khi uống thuốc vào buổi sáng hoặc tối.
Khi uống 10 mg montelukast một lần trong ngày, hầu như rất ít tích lũy montelukast
trong huyết tương (xấp xỉ 14%).
Đặc điểm người bệnh:
Không cần chỉnh liều đối với bệnh
nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận hoặc suy gan nhẹ đến trung bình. Không có
bằng chứng lâm sàng trên bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child-Pugh >9).
14. Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ; 5
vỉ; 10 vỉ x 10 viên. Chai 50 viên, 100
viên và 200 viên.
15. Điều kiện bảo quản: Nơi khô thoáng, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30oC.
16. Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
17. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc: Tiêu chuẩn cơ sở.
Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc:
CÔNG
TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân
An Hội,
Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh, Việt Nam
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại
028-37908860