Acid mefenamic 500 mg
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
1. Thành phần công thức thuốc:
Mỗi viên nén bao phim
chứa:
- Thành phần dược chất: Acid
mefenamic....................... 500 mg.
- Thành phần tá dược: Natri
starch glycolate; Lactose monohydrate (Granulac 200); PVP K30, Glycerine
(Refined Glycerine 99,7%); Acid stearic; Magnesium stearate; Colloidal silicon
dioxyd (Aerosil 200); Talc; Sodium lauryl sulfate (TENSOPOL USP97); Mùi dâu bột 510270; Hydroxypropylmethyl
cellulose (HPMC) 606;
Hydroxypropylmethyl cellulose (HPMC)
615; Titan dioxyt; Polyethylen glycol (PEG) 6000; Màu Quinolin yellow lake.
2. Dạng bào chế: Viên nén bao phim.
Mô tả sản phẩm: Viên nén bao phim, màu vàng, hình oval, vị dâu,
một mặt có khắc chữ USP, một mắt có khắc vạch ngang, thành và cạnh viên lành
lặn.
Lưu ý: Đường kẻ vạch thuốc chỉ có mục đích thẩm mỹ, không có ý nghĩa phân
liều.
3. Chỉ định:
Acid mefenamic thuộc nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) có tác
dụng hạ sốt, giảm đau và thuốc cũng đã được chứng minh là có tác dụng ức chế
prostaglandin.
Acid mefenamic được chỉ định trong trường hợp:
- Giảm triệu chứng của viêm khớp
dạng thấp (bao gồm cả bệnh Still’s - viêm khớp vô căn ở trẻ em), thoái hóa khớp;
giảm đau trong các trường hợp đau cơ, đau do chấn thương, đau răng, đau đầu bởi
hầu hết các nguyên nhân, đau hậu phẫu và đau sau sinh.
- Đau bụng kinh nguyên phát.
- Rong kinh do rối loạn chức năng
hoặc do sử dụng vòng tránh thai khi đã loại trừ các bệnh lý vùng chậu khác.
4. Liều dùng và cách dùng:
Liều dùng:
Có thể giảm thiểu các
tác dụng không mong muốn bằng cách dùng mức liều thấp nhất có tác dụng trong
khoảng thời gian ngắn nhất có thể. Không dùng thuốc quá liều quy định.
Người lớn:
- Dùng 500 mg acid mefenamic (1 viên
CADINAMIC) x 3 lần/ngày.
- Rong kinh: Thuốc được sử dụng trong ngày đầu
tiên chảy máu quá nhiều và sau đó tiếp tục được sử dụng theo chỉ định của bác
sĩ.
- Đau bụng kinh: Thuốc được sử dụng vào lúc
cơn đau bụng kinh khởi phát và sau đó tiếp tục được sử dụng theo chỉ định của
bác sĩ.
Người cao tuổi (trên 65 tuổi)
Sử dụng tương tự như ở
người lớn.
Không có nghiên cứu dược
động học hoặc nghiên cứu lâm sàng cụ thể nào ở người cao tuổi có sử dụng acid
mefenamic, có thể sử dụng mức liều thông thường ở người cao tuổi.
Người cao tuổi có nguy
cơ cao bị hậu quả nghiêm trọng của các tác dụng không mong muốn. Nếu cần thiết
phải sử dụng NSAIDs thì nên dùng ở mức liều thấp nhất có hiệu quả trong thời
gian ngắn nhất có thể và phải theo dõi bệnh nhân thường xuyên để phát hiện dấu
hiệu xuất huyết đường tiêu hóa trong thời gian sử dụng NSAIDs.
Cần thận trọng khi sử
dụng acid mefenamic ở người cao tuổi bị mất nước hoặc bị bệnh thận. Suy thận
không giảm niệu và viêm trực tràng-đại tràng chủ yếu được báo cáo ở người cao
tuổi tiếp tục sử dụng acid mefenamic sau khi xuất hiện tiêu chảy.
Trẻ em: Thuốc không được dùng cho trẻ em dưới 12 tuổi.
Cách dùng: Thuốc được dùng bằng đường uống, tốt nhất là nên
dùng thuốc trong hoặc sau bữa ăn.
5. Chống chỉ định:
- Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
- Bệnh viêm ruột.
- Tiền sử xuất huyết hoặc thủng đường tiêu hóa,
liên quan đến điều trị bằng NSAIDs trước đó.
- Tiền sử quá mẫn (ví dụ như hen phế quản, co
thắt phế quản, viêm mũi, phù mạch hoặc nổi mề đay) sau khi dùng aspirin,
ibuprofen hoặc NSAIDs khác do có khả năng dị ứng chéo.
- Bệnh nhân loét/xuất huyết dạ dày-tá tràng đang
tiến triển hoặc có tiền sử tái phát (hai hoặc nhiều đợt loét/xuất huyết).
- Bệnh nhân suy tim, suy gan và suy thận nặng.
- Điều trị đau sau phẫu thuật bắc cầu động
mạch vành (CABG).
- Trong 3 tháng cuối thai kỳ.
6. Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:
Có thể giảm thiểu tác dụng không mong muốn bằng cách dùng liều thấp nhất có
hiệu quả trong thời gian ngắn nhất cần thiết để kiểm soát các triệu chứng (xem
phần Liều dùng và cách dùng và nguy cơ trên đường tiêu hóa và tim mạch
bên dưới).
Bệnh nhân điều trị kéo dài cần được theo dõi thường xuyên, đặc biệt chú ý
đến rối loạn chức năng gan, phát ban, rối loạn tạo máu hoặc tiêu chảy.
Sự xuất hiện của bất kỳ triệu chứng nào trong số những triệu chứng này đều
được coi là dấu hiệu cần ngừng điều trị ngay lập tức (xem phần Tác dụng
không mong muốn của thuốc).
Sử dụng đồng thời với NSAIDs bao gồm chất ức chế đặc hiệu cyclooxygenase-2
(xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc).
Sử dụng kéo dài bất kỳ loại thuốc giảm đau nào để điều trị đau đầu có thể
khiến tình trạng trở nên tồi tệ hơn. Nếu gặp phải hoặc nghi ngờ tình trạng này,
nên tham khảo ý kiến bác sĩ và ngừng điều trị. Chẩn đoán 'Đau đầu do lạm dụng thuốc' nên được xem
xét ở những bệnh nhân bị đau đầu thường xuyên hoặc hàng ngày mặc dù (hoặc do) dùng thuốc giảm đau đầu thường xuyên.
Cần thận trọng ở những bệnh nhân bị mất nước và bệnh thận, đặc biệt là
người cao tuổi.
Người cao tuổi
Người cao tuổi có tần suất gặp các phản ứng có hại do NSAIDs cao hơn, đặc
biệt là xuất huyết và thủng đường tiêu hóa, có thể gây tử vong (xem phần Liều
dùng và cách dùng).
Rối loạn hô hấp
Cần thận trọng khi dùng cho bệnh nhân đang mắc hoặc có tiền sử mắc bệnh hen
phế quản vì NSAIDs có thể gây co thắt phế quản ở những bệnh nhân này.
Suy tim, suy thận và suy gan
Sử dụng NSAIDs có thể gây giảm phụ thuộc liều trong sự hình thành
prostaglandin và thúc đẩy suy thận. Những người bị suy giảm chức năng thận, suy
tim, rối loạn chức năng gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu và người cao
tuổi có nguy cơ cao nhất gặp phải tình trạng này. Cần theo dõi chức năng thận ở
những bệnh nhân này (xem thêm phần Chống chỉ định).
Ảnh hưởng trên tim mạch và mạch máu não
Cần theo dõi và tư vấn phù hợp cho những bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp
và/hoặc suy tim sung huyết nhẹ đến trung bình vì tình trạng giữ nước và phù nề
đã được báo cáo liên quan đến điều trị bằng NSAIDs.
Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng và dịch tễ học cho thấy việc sử dụng một số
NSAIDs (đặc biệt là ở liều cao và trong điều trị dài hạn) có thể liên quan đến
nguy cơ tăng nhẹ các biến cố huyết khối động mạch (ví dụ nhồi máu cơ tim hoặc
đột quỵ). Không có đủ dữ liệu để loại trừ nguy cơ như vậy đối với acid mefenamic.
Bệnh nhân bị tăng huyết áp không kiểm soát được, suy tim sung huyết, bệnh
tim thiếu máu cục bộ đã xác định, bệnh động mạch ngoại biên và/hoặc bệnh mạch
máu não chỉ nên được điều trị bằng acid mefenamic sau khi cân nhắc cẩn thận.
Cần cân nhắc tương tự trước khi bắt đầu điều trị dài hạn cho bệnh nhân có các
yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch (ví dụ như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái
tháo đường, hút thuốc).
Vì NSAIDs có thể ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu nên cần thận trọng khi sử
dụng ở những bệnh nhân bị xuất huyết nội sọ và có cơ địa dễ xuất huyết.
Xuất huyết, loét và thủng đường tiêu hóa
Xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa, có thể gây tử vong, đã được báo
cáo với tất cả NSAIDs tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị, có
hoặc không có triệu chứng cảnh báo hoặc tiền sử các biến cố đường tiêu hóa
nghiêm trọng. Hút thuốc và uống rượu là các yếu tố nguy cơ bổ sung.
Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa cao hơn khi tăng liều
NSAIDs, ở những bệnh nhân có tiền sử loét, đặc biệt nếu có biến chứng xuất
huyết hoặc thủng (xem phần Chống chỉ định) và ở người cao tuổi. Nên cân
nhắc liệu pháp phối hợp với các tác nhân bảo vệ (ví dụ misoprostol hoặc thuốc
ức chế bơm proton) cho những bệnh nhân có nguy cơ xuất huyết đường tiêu hóa như
người cao tuổi, và cả những bệnh nhân cần dùng đồng thời aspirin liều thấp hoặc
các thuốc khác có khả năng làm tăng nguy cơ đường tiêu hóa (xem bên dưới và phần
Tương tác, tương kỵ của thuốc).
Bệnh nhân có tiền sử ngộ độc đường tiêu hóa, đặc biệt là người cao tuổi,
nên báo cáo bất kỳ triệu chứng bất thường nào ở bụng (đặc biệt là xuất huyết
đường tiêu hóa), đặc biệt là trong giai đoạn đầu điều trị.
Cần thận trọng ở những bệnh nhân đang dùng đồng thời các thuốc có thể làm
tăng nguy cơ độc tính dạ dày hoặc xuất huyết như corticosteroid, thuốc chống
đông máu như warfarin, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc hoặc
thuốc chống tiểu cầu như aspirin (xem phần Tương tác, tương kỵ của thuốc).
Khi xuất huyết hoặc loét đường tiêu hóa xảy ra ở những bệnh nhân dùng acid
mefenamic thì phải ngừng điều trị.
SLE và bệnh mô liên kết hỗn hợp
Ở những bệnh nhân mắc bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và bệnh mô liên kết
hỗn hợp, có thể có nguy cơ viêm màng não vô khuẩn cao hơn (xem phần Tác dụng
không mong muốn của thuốc).
Phản ứng trên da
Các phản ứng da nghiêm trọng, một số trong số đó gây tử vong, bao gồm viêm
da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử thượng bì nhiễm độc, đã được
báo cáo liên quan đến việc sử dụng NSAIDs (xem phần Tác dụng không mong muốn
của thuốc). Bệnh nhân thường có nguy cơ cao nhất gặp phải các phản ứng này
vào giai đoạn đầu của quá trình điều trị, phản ứng khởi phát trong phần lớn các
trường hợp trong tháng đầu tiên điều trị. Nên ngừng dùng acid mefenamic khi
phát hiện lần đầu phát ban da, tổn thương niêm mạc hoặc bất kỳ dấu hiệu quá mẫn
nào khác.
Khả năng sinh sản của phụ nữ
Sử dụng acid mefenamic có thể làm giảm khả năng sinh sản của phụ nữ và
không khuyến cáo ở những phụ nữ đang cố gắng thụ thai. Ở những phụ nữ gặp khó
khăn trong việc thụ thai hoặc đang trong quá trình điều tra về tình trạng vô
sinh, nên cân nhắc ngừng dùng acid mefenamic.
Trong trường hợp đau bụng kinh và rong kinh, nếu không có phản ứng gì thì
bác sĩ cần phải tìm hiểu những nguyên nhân khác.
Động kinh
Cần thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh động kinh.
Ở những bệnh nhân được biết hoặc nghi ngờ có khả năng chuyển hóa CYP2C9 kém
dựa trên tiền sử/kinh nghiệm trước đó với các chất nền CYP2C9 khác, nên thận
trọng khi dùng acid mefenamic vì nồng độ thuốc trong huyết tương có thể cao bất
thường do giảm độ thanh thải qua chuyển hóa (xem phần Đặc tính dược động học).
Rượu
Sử dụng rượu đồng thời với acid mefenamic có thể làm tăng nguy cơ xuất
huyết, loét và thủng đường tiêu hóa.
Nguy cơ huyết khối tim mạch
Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), không phải aspirin, dùng đường
toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao
gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể
xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian
dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.
Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả
khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được
cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám
bác sĩ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này.
Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần dùng CADINAMIC ở liều
hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Cảnh báo tá dược:
CADINAMIC có chứa:
- Lactose monohydrate: Không nên sử
dụng cho người không dung nạp galactose, rối loạn hấp thu glucose-galactose.
- Natri: Dưới 1 mmol (23 mg)
natri trong mỗi viên, về cơ bản được xem như ‘không chứa natri’.
- Quinolin yellow lake: Có thể gây dị ứng.
7. Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai
Đã có báo cáo về các bất thường bẩm sinh liên quan đến việc sử dụng NSAIDs
ở người; tuy nhiên, những bất thường này có tần suất thấp và dường như không
tuân theo bất kỳ mô hình nào có thể nhận thấy. Do những tác động đã biết của
NSAIDs trên hệ tim mạch của thai nhi (nguy cơ đóng ống động mạch), chống chỉ
định dùng trong ba tháng cuối của thai kỳ. Quá trình chuyển dạ có thể bị trì
hoãn và thời gian chuyển dạ kéo dài hơn do xu hướng chảy máu tăng ở cả mẹ và
con (xem phần Chống chỉ định). Không nên dùng NSAIDs trong trong ba
tháng đầu và ba tháng thứ hai của thai kỳ hoặc chuyển dạ trừ khi lợi ích tiềm năng
cho bệnh nhân lớn hơn nguy cơ tiềm tàng cho thai nhi. Từ tuần thứ 20 của thai
kỳ trở đi, sử dụng CADINAMIC có thể gây thiểu ối cho thai nhi do rối loạn chức
năng thận. Điều này có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu điều trị và thường có
thể hồi phục khi ngừng điều trị. Ngoài ra, đã có báo cáo về tình trạng co thắt
ống động mạch sau khi điều trị trong ba tháng thứ hai, hầu hết trong số đó đã
khỏi sau khi ngừng điều trị.
Nếu một phụ nữ đang cố gắng thụ thai, hoặc trong ba tháng đầu và ba tháng
thứ hai của thai kỳ cần dùng CADINAMIC, nên giữ liều ở mức thấp và thời gian
điều trị càng ngắn càng tốt. Nên xem xét việc theo dõi trước sinh về tình trạng
thiểu ối và co thắt ống động mạch sau khi dùng CADINAMIC trong vài ngày kể từ
tuần thai thứ 20 trở đi. Nên ngừng dùng CADINAMIC nếu phát hiện thiểu ối hoặc
co thắt ống động mạch.
Trong ba tháng thứ ba của thai kỳ, tất cả các chất ức chế tổng hợp
prostaglandin có thể ảnh hưởng:
- Thai nhi:
+ Độc tính trên tim phổi (co thắt/đóng sớm ống động mạch và
tăng huyết áp phổi);
+ Rối loạn chức năng thận.
- Người mẹ và trẻ sơ sinh vào cuối
thai kỳ:
+ Có thể kéo dài thời gian chảy
máu, tác dụng chống kết tập tiểu cầu có thể xảy ra ngay cả ở liều rất thấp;
+ Ức chế các cơn co thắt tử cung
dẫn đến chậm chuyển dạ hoặc kéo dài thời gian chuyển dạ.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú
Một lượng nhỏ acid mefenamic có thể bài tiết vào trong sữa mẹ, vì vậy không
nên dùng trong thời gian cho con bú.
Khả năng sinh sản
Việc sử dụng acid mefenamic có thể làm suy yếu
khả năng sinh sản của phụ nữ và không được khuyến cáo ở những phụ nữ đang cố
gắng thụ thai. Ở những phụ nữ gặp khó khăn trong việc thụ thai hoặc đang trong
quá trình đánh giá về tình trạng vô sinh, nên cân nhắc ngừng dùng acid
mefenamic (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
8.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận
hành máy móc:
Có thể gặp
các tác dụng không mong muốn như chóng mặt, buồn ngủ, mệt mỏi và rối loạn thị
giác sau khi dùng NSAIDs. Nếu bị ảnh hưởng, bệnh nhân không nên lái xe hoặc vận
hành máy móc.
9.
Tương tác, tương kỵ của thuốc:
Tương
tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác
Có
thể phải điều chỉnh liều khi sử dụng đồng thời với các thuốc liên kết với
protein huyết tương.
- Thuốc chống đông máu:
NSAIDs
có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu, ví dụ như warfarin. Khi sử
dụng acid mefenamic với các thuốc chống đông máu đường uống cần phải theo dõi
cẩn thận thời gian prothrombin.
Không
nên phối hợp NSAIDs với warfarin hoặc heparin trừ khi có sự giám sát trực tiếp
của bác sỹ.
- Lithium: Giảm
độ thanh thải lithium ở thận và tăng nồng độ lithium trong huyết tương. Nên
theo dõi bệnh nhân cẩn thận để phát hiện các dấu hiệu ngộ độc lithium.
Các
tương tác sau đây đã được báo cáo với NSAIDs nhưng không nhất thiết là có liên
quan đến CADINAMIC:
- Thuốc giảm đau khác bao gồm thuốc
ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2: Tránh phối hợp hai hay nhiều NSAIDs (gồm
aspirin) vì có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng không mong muốn.
- Thuốc chống trầm cảm:
Thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI): Tăng nguy cơ xuất huyết
đường tiêu hóa.
- Thuốc hạ huyết áp và thuốc lợi
tiểu: Đã quan sát thấy tác dụng hạ huyết áp và lợi
tiểu giảm. Các thuốc lợi tiểu có thể làm tăng độc tính trên thận của NSAIDs.
- Thuốc ức chế ACE và đối kháng thụ
thể angiotensin-II: Giảm tác dụng hạ huyết áp và tăng nguy cơ suy
thận, đặc biệt là ở người cao tuổi. Nên bù nước đầy đủ cho bệnh nhân và đánh
giá chức năng thận trước khi bắt đầu và trong thời gian điều trị phối hợp.
- Aminoglycosid:
Giảm chức năng thận ở những bệnh nhân nhạy cảm, giảm độ thanh thải và tăng nồng
độ trong huyết tương của aminoglycosid.
- Thuốc chống kết tập tiểu cầu:
Tăng nguy cơ loét và xuất huyết đường tiêu hóa.
- Acid acetylsalicylic:
Các dữ liệu thực nghiệm cho thấy acid mefenamic gây ảnh hưởng đến tác dụng
chống kết tập tiểu cầu của aspirin liều thấp khi dùng đồng thời, và do đó có
thể ảnh hưởng tới hiệu quả của aspirin trong việc điều trị dự phòng bệnh tim
mạch. Tuy nhiên, do sự hạn chế của các dữ liệu thực nghiệm này và sự không chắc
chắn của phép ngoại suy các dữ liệu ex vivo
trong các tình huống lâm sàng nên không thể đưa ra kết luận chắc chắn về việc
sử dụng acid mefenamic thông thường.
- Glycosid tim:
NSAIDs có thể làm cho tình trạng suy tim nặng thêm, giảm tốc độ lọc cầu thận
(GFR) và tăng nồng độ glycosid tim trong huyết tương.
- Ciclosporin:
Nguy cơ độc tính trên thận của ciclosporin có thể tăng lên.
- Corticosteroid:
Tăng nguy cơ loét hoặc xuất huyết đường tiêu hóa.
- Thuốc điều trị đái tháo đường
đường uống: Ức chế chuyển hóa các thuốc sulfonylurea, kéo
dài thời gian bán thải và tăng nguy cơ hạ đường huyết.
- Methotrexat:
Sự đào thải thuốc có thể bị giảm, dẫn đến tăng nồng độ thuốc trong huyết tương.
- Mifepriston:
Không nên dùng NSAIDs trong vòng 8-12 ngày sau khi dùng mifepriston, NSAIDs có
thể làm giảm hiệu quả của mifepriston.
- Probenecid:
Giảm chuyển hóa và đào thải NSAIDs và các chất chuyển hóa.
- Kháng sinh quinolon:
Dữ liệu trên động vật cho thấy NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ co giật liên quan
tới kháng sinh quinolon. Bệnh nhân dùng đồng thời NSAIDs và quinolon có thể có
nguy cơ co giật cao hơn.
- Tacrolimus:
Có thể làm tăng nguy cơ độc tính trên thận.
- Zidovudin:
Tăng nguy cơ độc tính trên huyết học khi dùng NSAIDs cùng với zidovudin. Có
bằng chứng về tăng nguy cơ tụ máu khớp và tụ máu trong chứng máu khó đông ở
người nhiễm HIV được điều trị đồng thời bằng zidovudin và ibuprofen.
Tương
kỵ của thuốc
Do không
có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các
thuốc khác.
10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR):
Tác dụng không mong muốn
được báo cáo thường xuyên nhất liên quan đến acid mefenamic là trên đường tiêu
hóa.
Tiêu chảy đôi khi xảy ra
sau khi dùng acid mefenamic, có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu điều trị hoặc
sau nhiều tháng sử dụng liên tục. Tình trạng tiêu chảy đã được nghiên cứu ở một
số bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc này mặc dù tiêu chảy vẫn còn. Những bệnh nhân
này được phát hiện có viêm viêm trực tràng - đại tràng kèm theo. Nếu tiêu chảy
xảy ra, nên ngừng thuốc ngay lập tức và bệnh nhân này không nên dùng acid
mefenamic nữa.
Các tác dụng không mong
muốn của thuốc theo phân loại hệ thống - cơ quan liệt kê trong bảng với tần suất xảy ra chưa
được biết rõ.
Bảng 1. Tác
dụng không mong muốn của thuốc
|
Hệ thống - Cơ quan
|
Tác dụng không mong muốn
|
|
Rối loạn máu và hệ
bạch huyết
|
Thiếu máu tan máu*, thiếu máu, thiểu sản tủy xương, giảm hematocrit, ban
xuất huyết giảm tiểu cầu, giảm tạm thời số lượng bạch cầu (giảm bạch cầu) có
nguy cơ nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết và đông máu nội mạch lan tỏa.
Giảm bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản, tăng bạch cầu ái toan, giảm bạch
cầu trung tính, giảm toàn thể huyết cầu, giảm tiểu cầu.
|
|
Rối loạn hệ miễn dịch
|
Phản ứng quá mẫn đã được báo cáo sau khi điều trị bằng NSAIDs. Những phản
ứng này có thể bao gồm (a) phản ứng dị ứng không đặc hiệu và phản vệ (b) phản
ứng đường hô hấp bao gồm hen phế quản, hen trở nặng, co thắt phế quản hoặc
khó thở (c) các rối loạn da khác nhau bao gồm phát ban, ngứa, nổi mề đay, ban
xuất huyết, phù mạch và hiếm gặp hơn là viêm da tróc vảy hoặc bọng nước (bao
gồm hoại tử thượng bì nhiễm độc và hồng ban đa dạng).
|
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
|
Không dung nạp glucose ở bệnh nhân đái tháo đường, hạ natri máu.
|
|
Rối loạn tâm thần
|
Lú lẫn, chán nản, ảo giác, lo lắng.
|
|
Rối loạn hệ thần kinh
|
Viêm dây thần kinh thị giác, đau đầu, dị cảm, chóng mặt, buồn ngủ, báo
cáo về viêm màng não vô khuẩn (đặc biệt ở những bệnh nhân mắc các bệnh lý tự
miễn hiện có, chẳng hạn như bệnh lupus ban đỏ hệ thống, bệnh mô liên kết hỗn
hợp), với các triệu chứng như cứng cổ, đau đầu, buồn nôn, nôn, sốt hoặc mất
phương hướng (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Nhìn mờ, co giật, mất ngủ.
|
|
Rối loạn mắt
|
Kích ứng mắt, mất khả năng nhìn màu (có thể hồi phục), rối loạn thị giác.
|
|
Rối loạn tai và mê đạo
|
Đau tai, ù tai, chóng mặt.
|
|
Rối loạn tim mạch
|
Phù nề, tăng huyết áp và suy tim đã được báo cáo có liên quan đến NSAIDs.
Dữ liệu dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc sử dụng một số
NSAIDs (đặc biệt ở liều cao và trong thời gian dài) có thể liên quan đến tăng
nguy cơ mắc các biến cố huyết khối động mạch (ví dụ nhồi máu cơ tim hoặc đột
quỵ) (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Đánh trống ngực.
Hạ huyết áp.
|
|
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
|
Hen phế quản, khó thở.
|
|
Rối loạn tiêu hóa
|
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là trên đường tiêu hóa. Có
thể xảy ra loét dạ dày-tá tràng, thủng hoặc chảy máu đường tiêu hóa, đôi khi
gây tử vong, đặc biệt ở người cao tuổi (xem phần Cảnh báo và thận trọng
khi dùng thuốc). Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đầy hơi, táo bón, khó tiêu,
đau bụng, phân đen, nôn ra máu, viêm loét miệng, đợt cấp viêm đại tràng và
bệnh Crohn đã được báo cáo sau khi dùng thuốc. Viêm dạ dày được báo cáo ít
gặp hơn.
Tình trạng loét hoặc chảy máu đường tiêu hóa dường như gây ảnh hưởng trên
bệnh nhân cao tuổi hoặc suy nhược nhiều hơn so với những bệnh nhân khác và
hầu hết các báo cáo tự phát về các biến cố đường tiêu hóa gây tử vong đều xảy
ra ở nhóm đối tượng này.
Chán ăn, viêm đại tràng, viêm ruột, loét dạ dày có hoặc không có xuất
huyết, viêm tụy, tiêu chảy phân mỡ.
|
|
Rối loạn gan mật
|
Tăng nhẹ một hoặc nhiều xét nghiệm chức năng gan, vàng da ứ mật.
Độc tính nhẹ với gan, viêm gan, hội chứng gan thận.
|
|
Rối loạn da và mô dưới
da
|
Phù mạch, phù thanh quản, hồng ban đa dạng, phù mặt, phồng rộp bao gồm
hội chứng Lyell (hoại tử thượng bì nhiễm độc) và hội chứng Stevens-Johnson,
đổ mồ hôi, phát ban, phản ứng nhạy cảm với ánh sáng, ngứa và nổi mề đay.
|
|
Rối loạn thận và tiết
niệu
|
Viêm cầu thận dị ứng, viêm kẽ thận cấp, tiểu khó, tiểu máu, hội chứng
thận hư, suy thận không do thiểu niệu (đặc biệt là khi mất nước), protein
niệu, suy thận bao gồm hoại tử nhú thận.
|
|
Rối loạn toàn thân và
tại chỗ
|
Mệt mỏi, khó chịu, suy đa cơ quan, sốt.
|
|
Thăm khám
|
Phản ứng dương tính trong một số xét nghiệm tìm mật trong nước tiểu của
bệnh nhân dùng acid mefenamic đã được chứng minh là do sự hiện diện của thuốc
và các chất chuyển hóa chứ không phải do mật.
|
|
Nguy cơ huyết khối tim
mạch
|
(xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
|
* có thể hồi phục khi ngừng dùng acid mefenamic
11. Quá liều và cách xử trí:
Triệu chứng
Các triệu chứng quá liều cấp tính của NSAIDs thường gặp như lơ mơ, buồn
ngủ, nôn và đau thượng vị, thường là điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Xuất huyết
đường tiêu hoá có thể xảy ra. Tăng huyết áp, suy thận cấp, ức chế hô hấp, hôn
mê có thể xảy ra.
Cách xử trí
Bệnh nhân nên được điều trị triệu chứng khi cần thiết.
Trong vòng một giờ sau khi dùng quá liều acid mefenamic, nên cân nhắc dùng
than hoạt tính; ngoài ra, ở người lớn có thể xem xét việc rửa dạ dày khi có khả
năng đe dọa tính mạng.
Cần đảm bảo lượng nước tiểu thải ra tốt. Chức năng thận và gan cần được
theo dõi chặt chẽ.
Bệnh nhân cần được theo dõi ít nhất 4 giờ sau khi dùng một lượng thuốc có khả năng gây độc.
Các cơn co giật thường xuyên hoặc kéo dài nên được điều trị bằng diazepam
tiêm tĩnh mạch.
Các biện pháp khác có thể được chỉ định tùy theo tình trạng lâm sàng của
bệnh nhân.
Thẩm phân máu không mang lại lợi ích do sự liên kết chặt chẽ của acid
mefenamic và các chất chuyển hóa với protein huyết tương.
12. Đặc tính dược lực học:
Nhóm dược lý: Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs).
Mã ATC: M01AG01.
Cơ chế tác dụng:
Acid mefenamic là thuốc kháng viêm không steroid, có đặc
tính kháng viêm, giảm đau và hạ sốt.
Tác dụng kháng viêm của acid mefenamic lần đầu tiên được xác
định trong mô hình viêm ban đỏ do tia cực tím. Các nghiên cứu sâu hơn bao gồm
ức chế sự phát triển của mô hạt thành “cotton pellets” dưới da ở chuột và thử
nghiệm phù nề bàn chân chuột do carragheenin.
Tác dụng hạ sốt đã được chứng minh trên cơn sốt do nấm men
gây ra ở chuột. Trong mô hình này, tác dụng hạ sốt của acid mefenamic gần bằng tác
dụng hạ sốt của phenylbutazon và axit flufenamic, nhưng ít hơn indomethacin.
Tác dụng giảm đau đã được chứng minh trong các thử nghiệm
liên quan đến độ nhạy cảm với cơn đau của bàn chân chuột bị viêm do nấm men
bia. Trong mô hình này, acid mefenamic kém hiệu quả hơn axit flufenamic.
Các prostaglandin có liên quan đến một số quá trình bệnh lý
bao gồm viêm, điều hòa đáp ứng đau, đau bụng kinh, rong kinh và sốt.
Tương tự hầu hết NSAIDs, acid mefenamic ức chế hoạt động của
prostaglandin synthetase (cyclooxygenase), dẫn đến giảm tỷ lệ tổng hợp prostaglandin
và giảm nồng độ prostaglandin.
Tác dụng kháng viêm của NSAIDs trong thử nghiệm phù nề bàn
chân chuột có liên quan đến khả năng ức chế prostaglandin synthetase của chúng.
Trong cả hai thử nghiệm này, acid mefenamic được xếp giữa indomethacin và
phenylbutazon, có khả năng là sự ức chế tổng hợp prostaglandin góp phần vào tác
dụng dược lý và hiệu quả lâm sàng của acid mefenamic.
Cũng có bằng chứng đáng kể cho thấy các fenamat ức chế hoạt
động của các prostaglandin sau khi hình thành. Do đó, các fenamat vừa ức chế
quá trình tổng hợp vừa phản ứng với prostaglandin. Sự phong tỏa kép này có thể
rất quan trọng trong cơ chế tác dụng của các fenamat.
13. Đặc tính dược động học:
Hấp thu
và phân bố
Acid
mefenamic được hấp thu từ đường tiêu hóa. Nồng độ đỉnh đạt 10 mg/L sau hai giờ
uống liều 1 g cho người lớn.
Chuyển
hóa
Acid
mefenamic chủ yếu được chuyển hóa bởi enzym cytochrom P450 CYP2C9 ở gan, đầu
tiên thành dẫn xuất 3-hydroxymethyl (chất chuyển hóa I) và sau đó thành dẫn
xuất 3-carboxyl (chất chuyển hóa II). Cả hai chất chuyển hóa tiếp tục tham gia
phản ứng liên hợp để tạo thành glucuronid.
Do đó,
ở những bệnh nhân được biết hoặc nghi ngờ chuyển hóa CYP2C9 kém dựa trên tiền
sử/kinh nghiệm trước đó với các chất nền CYP2C9 khác, nên thận trọng khi dùng acid
mefenamic vì nồng độ thuốc trong huyết tương có thể cao bất thường do giảm độ
thanh thải chuyển hóa.
Thải
trừ
52%
liều dùng được bài tiết qua nước tiểu, trong đó 6% dưới dạng acid mefenamic, 25%
dưới dạng chất chuyển hóa I và 21% dưới dạng chất chuyển hóa II. 10-20% liều
dùng được bài tiết qua phân (phân tích trong thời gian 3 ngày) dưới dạng chất
chuyển hóa II không liên hợp. Nồng độ acid mefenamic không liên hợp trong huyết
tương giảm dần, với thời gian bán thải khoảng 2 giờ.
14. Quy cách đóng gói: Hộp 3 vỉ, 10 vỉ x 10 viên. Chai 100 viên.
15. Điều kiện bảo quản: Nơi khô thoáng, nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng.
16. Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
17. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc: Tiêu chuẩn cơ sở.
Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc:
CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường D2,
Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội,
Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Mọi thắc mắc và thông
tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại 028-37908860