Rx
Thuốc này chỉ dùng theo đơn thuốc
Celecoxib 100 mg
Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
1.
Thành phần công thức thuốc:
Mỗi viên nang
cứng chứa
- Thành phần
dược chất: Celecoxib.....................................100 mg.
- Thành phần tá
dược: Lactose, Tinh bột ngô, Polyvinyl pyrrolidone PVP K30, Natri
starch glycolat, Natri lauryl sulfat, Magnesi stearat.
2.
Dạng bào chế:
Viên nang
cứng.
Mô tả dạng bào
chế: Viên nang cứng
số 2, màu trắng-trắng, nang không bị móp, trầy xước.
3.
Chỉ định:
- COLEXIB 100 được chỉ định ở người lớn để giảm triệu chứng trong điều
trị thoái
hóa khớp, viêm khớp dạng
thấp và viêm cột sống dính khớp.
- Quyết định kê đơn một chất ức chế chọn lọc
cyclooxygenase-2 (COX-2) phải dựa trên đánh giá về nguy cơ tổng thể của từng
bệnh nhân.
4. Liều lượng và cách dùng
Liều lượng
Vì nguy cơ tim mạch
(CV) của celecoxib có thể tăng lên theo liều lượng và thời gian tiếp xúc, nên
sử dụng trong thời gian ngắn nhất có thể và liều hàng ngày có hiệu quả thấp
nhất. Cần định kỳ đánh giá lại nhu cầu của bệnh nhân về giảm triệu chứng
và đáp ứng với điều trị, đặc biệt ở những bệnh nhân bị thoái hóa khớp.
Thoái hóa khớp
Liều khuyến cáo
thông thường hàng ngày là 200 mg một lần mỗi ngày hoặc chia làm hai lần. Ở
một số bệnh nhân không giảm đủ các triệu chứng, tăng liều 200 mg x 2 lần/ngày
có thể làm tăng hiệu quả. Trong trường hợp không tăng hiệu quả điều trị
sau hai tuần, nên xem xét các lựa chọn điều trị khác.
Viêm khớp dạng thấp
Liều khuyến cáo ban đầu hàng ngày là 200 mg chia làm hai lần. Nếu
cần, sau đó có thể tăng liều lên 200 mg x 2 lần/ngày. Trong trường hợp
không tăng hiệu quả điều trị sau hai tuần, nên xem xét các lựa chọn điều trị
khác.
Viêm cột sống dính khớp
Liều khuyến cáo hàng ngày là 200 mg một lần mỗi ngày hoặc chia làm hai
lần. Ở một số bệnh nhân không giảm đủ các triệu chứng, tăng liều 400 mg
một lần mỗi ngày hoặc chia làm hai lần có thể làm tăng hiệu quả. Trong
trường hợp không tăng hiệu quả điều trị sau hai tuần, nên xem xét các lựa chọn
điều trị khác.
Liều tối đa khuyến cáo hàng ngày là 400 mg cho tất cả các chỉ định.
Đối
tượng đặc biệt
Người
già
Như
ở người trẻ hơn, liều ban đầu nên dùng là 200 mg mỗi ngày. Nếu cần, sau đó
có thể tăng liều lên 200 mg x 2 lần/ngày. Cần đặc biệt thận trọng ở người
cao tuổi có cân nặng
dưới 50 kg.
Trẻ
em
Celecoxib
không được chỉ định sử dụng cho trẻ em.
Chuyển
hóa kém CYP2C9
Bệnh
nhân đã biết hoặc nghi ngờ là người chuyển hóa kém CYP2C9 dựa trên kiểu gen
hoặc tiền sử/kinh nghiệm trước đây với các cơ chất CYP2C9 khác nên sử dụng
celecoxib một cách thận trọng vì nguy cơ tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào
việc tăng liều. Cân nhắc giảm liều xuống một nửa liều khuyến cáo thấp
nhất.
Suy
gan
Nên
bắt đầu điều trị bằng một nửa liều khuyến cáo ở bệnh nhân suy gan mức
độ trung bình với albumin huyết thanh là 25-35 g/l. Kinh nghiệm
ở những bệnh nhân này chỉ giới hạn ở những bệnh nhân xơ gan.
Suy
thận
Kinh
nghiệm sử dụng celecoxib ở bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình còn hạn chế,
do đó những bệnh nhân này cần được điều trị thận trọng.
Cách dùng
Thuốc dùng qua đường uống.
Với bệnh nhân khó nuốt viên nang, có thể cho lượng thuốc trong viên vào
sinh tố táo, cháo, sữa chua hoặc chuối nghiền nát để uống cùng. Khi đó, phải
cho toàn bộ lượng thuốc vào khoảng một thìa nhỏ nước sinh tố táo, cháo, sữa
chua hoặc chuối nghiền nát ở nhiệt độ phòng và phải uống ngay với nước. Lượng
thuốc đã trộn với nước sinh tố táo, cháo hoặc sữa chua ổn định trong khoảng 6
giờ khi bảo quản trong tủ lạnh (2-8 oC/35-45 oF). Không được bảo
quản trong tủ lạnh lượng thuốc đã trộn với chuối nghiền nát mà phải uống ngay.
5.
Chống chỉ định
- Quá mẫn với celecoxib hoặc bất kỳ thành phần nào của
thuốc.
- Quá mẫn với sulfonamid.
- Loét dạ dày tiến triển hoặc xuất huyết đường tiêu hóa
(GI).
- Bệnh nhân đã từng bị hen suyễn, viêm mũi cấp tính,
polyp mũi, phù mạch thần kinh, mày đay hoặc các phản ứng dạng dị ứng khác sau
khi dùng axit acetylsalicylic (aspirin) hoặc các thuốc chống viêm không steroid
khác (NSAIDs) bao gồm cả chất ức chế
COX-2.
- Phụ nữ trong thời kỳ mang thai và phụ nữ có khả năng
sinh đẻ trừ khi sử dụng một phương pháp tránh thai hiệu quả. Celecoxib đã
được chứng minh là gây ra dị tật ở hai loài động vật được nghiên cứu. Khả
năng rủi ro ở người trong thai kỳ vẫn chưa được biết, nhưng không thể loại trừ.
- Phụ nữ cho con bú.
- Rối loạn chức năng gan nặng (albumin huyết thanh <25
g/l hoặc điểm Child-Pugh ≥10).
- Bệnh nhân có độ thanh thải creatinin ước tính <30 ml/phút.
- Bệnh viêm ruột.
- Suy tim sung huyết (NYHA
II-IV).
- Bệnh tim thiếu máu cục bộ đã hình thành, bệnh động mạch ngoại biên và/hoặc
bệnh mạch máu não.
6.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc
Nguy
cơ huyết khối tim mạch
Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), không
phải aspirin, dùng
đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim
mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ
này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo
thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều
cao.
Bác sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các
biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước
đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm
trọng và cần thăm khám bác sĩ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này.
Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần
sử dụng celecoxib
ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời
gian ngắn nhất có thể.
Ảnh hưởng
trên đường tiêu hóa (GI)
Các
biến chứng đường tiêu hóa trên và dưới (thủng, loét hoặc xuất huyết [PUBs]),
một số biến chứng dẫn đến tử vong, đã xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị
bằng celecoxib. Cần thận trọng khi điều trị ở những bệnh nhân có nguy cơ cao
nhất phát triển một biến chứng đường tiêu hóa với NSAIDs; người cao tuổi, bệnh nhân
sử dụng bất kỳ NSAIDs
hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu nào khác (như acid acetylsalicylic) hoặc sử
dụng đồng thời với glucocorticoid, bệnh nhân sử dụng rượu hoặc bệnh nhân có
tiền sử bệnh đường tiêu hóa, chẳng hạn như loét và xuất huyết đường tiêu hóa.
Tăng
nguy cơ tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa đối với celecoxib (loét
đường tiêu hóa hoặc các biến chứng đường tiêu hóa khác), khi dùng celecoxib đồng thời với acid
acetylsalicylic (ngay cả ở liều thấp).
Sự
khác biệt đáng kể về độ an toàn GI giữa các chất ức chế chọn lọc COX-2 + acid acetylsalicylic với NSAIDs + acid acetylsalicylic chưa được
chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn.
Sử
dụng đồng thời với NSAIDs
Nên
tránh sử dụng đồng thời celecoxib và một NSAIDs
không phải aspirin.
Ảnh hưởng trên
tim mạch
Số
lượng các biến cố tim mạch (CV) nghiêm trọng tăng, chủ yếu là nhồi máu cơ tim,
đã được tìm thấy trong một nghiên cứu có đối chứng với giả dược kéo dài ở những
đối tượng bị polyp tuyến rải rác được điều trị bằng celecoxib ở liều 200 mg hai
lần mỗi ngày (BID) và 400 mg BID so với giả dược.
Vì nguy cơ tim mạch
của celecoxib có thể tăng lên theo liều lượng và thời gian tiếp xúc, nên sử
dụng trong thời gian ngắn nhất có thể và liều hàng ngày hiệu quả thấp
nhất. NSAIDs, bao gồm cả các chất
ức chế chọn lọc COX-2, có liên quan đến việc tăng nguy cơ các tác dụng không
mong muốn trên tim mạch và huyết khối khi dùng lâu dài. Mức độ chính xác
của nguy cơ liên quan đến một liều đơn chưa được xác định, cũng như thời gian
điều trị chính xác có liên quan đến việc tăng nguy cơ. Cần định kỳ đánh
giá lại nhu cầu của bệnh nhân về giảm triệu chứng và đáp ứng với điều trị, đặc
biệt ở những bệnh nhân bị viêm xương khớp.
Bệnh
nhân có các yếu tố nguy cơ đáng kể đối với các biến cố tim mạch (ví dụ như tăng
huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá) chỉ nên được điều trị
bằng celecoxib sau khi đã cân nhắc cẩn thận.
Các
chất ức chế chọn lọc COX-2 không thay thế cho acid acetylsalicylic trong điều
trị dự phòng các bệnh huyết khối tim mạch do không có tác dụng chống kết tập
tiểu cầu. Do đó, không nên ngừng các liệu pháp chống kết tập tiểu cầu.
Giữ
nước và phù nề
Cũng
như các thuốc khác được biết là có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, tình
trạng giữ nước và phù nề đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng
celecoxib. Do đó, nên sử dụng celecoxib một cách thận trọng cho bệnh nhân
có tiền sử suy tim, rối loạn chức năng thất trái hoặc tăng huyết áp, và ở những
bệnh nhân bị phù từ trước do bất kỳ lý do nào khác, vì ức chế prostaglandin có
thể làm suy giảm chức năng thận và giữ nước. Cũng cần thận trọng ở những
bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc lợi tiểu hoặc có nguy cơ giảm thể tích máu.
Tăng
huyết áp
Như
với tất cả NSAIDs,
celecoxib có thể dẫn đến sự khởi đầu của bệnh tăng huyết áp mới hoặc làm trầm
trọng thêm bệnh tăng huyết áp đã có từ trước, một trong hai điều này có thể góp
phần làm tăng tỷ lệ các biến cố tim mạch. Do đó, huyết áp cần được theo
dõi chặt chẽ trong thời gian bắt đầu điều trị bằng celecoxib và trong suốt quá
trình điều trị.
Ảnh hưởng
trên gan và thận
Chức
năng thận hoặc gan bị suy giảm và đặc biệt là rối loạn chức năng tim có nhiều
khả năng xảy ra hơn ở người cao tuổi và do đó cần duy trì sự giám sát thích hợp
về mặt y tế.
NSAIDs, bao gồm celecoxib, có thể gây
độc cho thận. Các thử nghiệm lâm sàng với celecoxib đã cho thấy các tác
dụng trên thận tương tự như các tác dụng được quan sát ở NSAIDs khác. Những bệnh nhân có
nguy cơ nhiễm độc thận cao nhất là những người bị suy giảm chức năng thận, suy
tim, rối loạn chức năng gan, những người đang dùng thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế
men chuyển (ACE), thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II và người cao
tuổi. Những bệnh nhân này nên được theo dõi cẩn thận trong khi điều trị
bằng celecoxib.
Một
số trường hợp phản ứng gan nghiêm trọng, bao gồm viêm gan tối cấp (một số dẫn
đến tử vong), hoại tử gan và suy gan (một số có kết quả tử vong hoặc cần ghép
gan), đã được báo cáo với celecoxib. Trong số các trường hợp được báo cáo
về thời gian khởi phát, hầu hết các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng về
gan phát triển trong vòng một tháng sau khi bắt đầu điều trị bằng celecoxib.
Nếu
trong quá trình điều trị, bệnh nhân xấu đi ở bất kỳ chức năng nào của hệ cơ
quan được mô tả ở trên, nên thực hiện các biện pháp thích hợp và nên xem xét
việc ngừng điều trị bằng celecoxib.
Ức
chế CYP2D6
Celecoxib
ức chế CYP2D6. Mặc dù nó không phải là chất ức chế mạnh enzym này, nhưng
có thể cần giảm liều đối với các sản phẩm thuốc được chuẩn liều riêng lẻ được
chuyển hóa bởi CYP2D6.
Chuyển
hóa kém CYP2C9
Bệnh
nhân được biết là người chuyển hóa kém CYP2C9 nên được điều trị thận trọng.
Phản
ứng quá mẫn trên da và toàn thân
Các
phản ứng da nghiêm trọng, một số gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội
chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc, đã được báo cáo rất hiếm
khi liên quan đến việc sử dụng celecoxib. Bệnh nhân dường như sớm có nguy
cơ cao nhất đối với những phản ứng này trong quá trình điều trị: sự khởi đầu
của phản ứng xảy ra trong phần lớn các trường hợp trong tháng đầu điều
trị. Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng (bao gồm phản vệ, phù mạch và phát
ban do thuốc với tăng bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS),
hoặc hội chứng quá mẫn), đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng
celecoxib. Bệnh nhân có tiền sử dị ứng sulfonamid hoặc bất kỳ dị ứng thuốc
nào có thể có nhiều nguy cơ bị phản ứng da nghiêm trọng hoặc phản ứng quá mẫn.
Tổng
quát
Celecoxib
có thể che dấu sốt và các dấu hiệu viêm khác.
Sử
dụng với thuốc chống đông đường uống
Ở
những bệnh nhân đang điều trị đồng thời với warfarin, các hiện tượng chảy máu
nghiêm trọng, một số gây tử vong, đã được báo cáo. Thời gian prothrombin
(INR) tăng khi điều trị đồng thời đã được báo cáo. Do đó, cần được theo
dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông đường uống loại
warfarin/coumarin, đặc biệt khi bắt đầu điều trị bằng celecoxib hoặc thay đổi
liều celecoxib. Sử dụng đồng thời thuốc chống đông với NSAIDs có thể làm tăng nguy cơ chảy
máu. Cần thận trọng khi kết hợp celecoxib với warfarin hoặc các thuốc
chống đông đường uống khác, bao gồm các thuốc chống đông máu mới (ví dụ:
apixaban, dabigatran và rivaroxaban).
Cảnh báo
tá dược
- Lactose: Bệnh
nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu
lactase toàn phần hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
- Natri: Sản
phẩm thuốc này chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg) trong mỗi viên, nghĩa là về cơ
bản là “không có natri”.
7.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có
thai và cho con bú:
Phụ nữ có thai
Các nghiên cứu trên động vật (chuột và thỏ) đã cho thấy
độc tính đối với sinh sản, bao gồm cả dị tật. Ức chế tổng hợp
prostaglandin có thể ảnh hưởng xấu đến thai kỳ. Dữ liệu từ các nghiên cứu
dịch tễ học cho thấy tăng nguy cơ sẩy thai tự nhiên sau khi sử dụng các chất ức
chế tổng hợp prostaglandin trong thời kỳ đầu mang thai. Khả năng rủi ro ở
người trong thai kỳ vẫn chưa được biết, nhưng không thể loại
trừ. Celecoxib, cũng như các sản phẩm thuốc khác ức chế tổng hợp
prostaglandin, có thể gây ra cơn
co tử cung yếu và đóng ống động mạch sớm trong ba tháng cuối.
Trong ba tháng giữa hoặc ba tháng cuối của thai kỳ, NSAIDs bao gồm celecoxib có thể gây rối loạn chức năng thận của
thai nhi, dẫn đến giảm thể tích
nước ối hoặc thiểu ối trong những trường hợp nghiêm trọng. Những
tác dụng như vậy có thể xảy ra ngay sau khi bắt đầu điều trị và thường có thể
hồi phục khi ngừng thuốc.
Celecoxib được chống chỉ định trong thời kỳ mang thai và
phụ nữ có thể mang thai. Nếu phụ nữ có thai trong thời gian điều trị, nên
ngừng dùng celecoxib.
Phụ nữ cho
con bú
Celecoxib được bài tiết qua sữa của chuột đang cho con bú
ở nồng độ tương tự như trong huyết tương. Sử dụng celecoxib cho một số ít
phụ nữ đang cho con bú đã cho thấy khả năng chuyển celecoxib vào sữa mẹ rất
thấp. Phụ nữ dùng celecoxib không nên cho con bú.
Khả năng sinh sản
Dựa trên cơ chế hoạt động, việc sử dụng NSAIDs, bao gồm
celecoxib, có thể trì hoãn hoặc ngăn vỡ nang buồng trứng, có liên quan đến vô
sinh có thể hồi phục ở một số phụ nữ.
8.
Ảnh
hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Celecoxib có thể có ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái
xe và vận hành máy móc. Những bệnh nhân bị chóng mặt, hoa mắt hoặc buồn
ngủ khi dùng celecoxib nên hạn chế lái xe hoặc vận hành máy móc.
9. Tương
tác, tương kỵ của thuốc
Tương
tác dược lực học
Thuốc
chống đông máu
Hoạt
động chống đông máu cần được theo dõi đặc biệt trong vài ngày đầu sau khi bắt
đầu hoặc thay đổi liều celecoxib ở những bệnh nhân đang dùng warfarin hoặc các
thuốc chống đông khác vì những bệnh nhân này có nguy cơ tăng biến chứng chảy
máu. Do đó, bệnh nhân dùng thuốc chống đông đường uống cần được theo dõi
chặt chẽ về INR thời gian prothrombin của họ, đặc biệt trong vài ngày đầu khi
bắt đầu điều trị bằng celecoxib hoặc thay đổi liều celecoxib. Các biến cố
chảy máu liên quan đến tăng thời gian prothrombin đã được báo cáo, chủ yếu ở
người cao tuổi, ở những bệnh nhân dùng celecoxib đồng thời với warfarin, một số
trường hợp tử vong.
Thuốc
chống tăng huyết áp
NSAIDs có thể làm giảm tác dụng của các
thuốc chống tăng huyết áp bao gồm thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng thụ
thể angiotensin II, thuốc lợi tiểu và thuốc chẹn beta. Đối với NSAIDs, nguy cơ suy thận cấp, thường có
thể hồi phục, có thể tăng lên ở một số bệnh nhân có chức năng thận bị tổn
thương (ví dụ bệnh nhân mất nước, bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu hoặc bệnh nhân
cao tuổi) khi dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin
II, và/hoặc thuốc lợi tiểu được kết hợp với NSAIDs,
bao gồm celecoxib. Do đó, sự kết hợp nên được sử dụng một cách thận trọng,
đặc biệt là ở người cao tuổi. Bệnh nhân cần được cung cấp đủ nước và nên
theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời và định kỳ sau đó.
Trong
một nghiên cứu lâm sàng kéo dài 28 ngày ở bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn I
và II có kiểm soát lisinopril, việc sử dụng celecoxib 200 mg BID không làm tăng
đáng kể về mặt lâm sàng, khi so sánh với điều trị giả dược, về huyết áp tâm thu
hoặc huyết áp tâm trương trung bình hàng ngày được xác định bằng cách sử dụng 24 giờ theo dõi huyết áp lưu động. Trong
số những bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib 200 mg BID, 48% được coi là
không đáp ứng với lisinopril tại lần khám cuối cùng (được định nghĩa là huyết
áp tâm trương > 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương tăng > 10% so với ban
đầu), so với 27% của
những bệnh nhân được điều trị bằng giả dược; sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê.
Ciclosporin
và tacrolimus
Sử
dụng đồng thời NSAIDs
và ciclosporin hoặc tacrolimus có thể làm tăng tác dụng độc với thận của
ciclosporin hoặc tacrolimus. Chức năng thận nên được theo dõi khi kết hợp
celecoxib và bất kỳ thuốc nào trong số này.
Acid
acetylsalicylic
Celecoxib
có thể được sử dụng với acid acetylsalicylic liều thấp nhưng không thay thế cho
acid acetylsalicylic trong điều trị dự phòng CV. Trong các nghiên cứu đã được công bố, cũng như với
NSAIDs khác, việc tăng nguy cơ loét
đường tiêu hóa hoặc các biến chứng tiêu hóa khác so với việc sử dụng celecoxib đơn
liều khi dùng đồng thời với acid acetylsalicylic liều thấp.
Tương
tác dược động học
Ảnh
hưởng của celecoxib đối với các thuốc khác
Ức
chế CYP2D6
Celecoxib
là chất ức chế CYP2D6. Nồng độ trong huyết tương của các thuốc là cơ chất
của enzym này có thể tăng lên khi sử dụng đồng thời với celecoxib. Ví dụ
về các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2D6 là thuốc chống trầm cảm (ba vòng và
SSRI), thuốc an thần, thuốc chống loạn nhịp, v.v. Liều của cơ chất CYP2D6 được
chuẩn liều theo liều đơn có thể cần phải giảm khi bắt đầu điều trị bằng
celecoxib hoặc tăng lên nếu chấm dứt điều trị bằng celecoxib.
Dùng
đồng thời celecoxib 200 mg hai lần mỗi ngày làm tăng nồng độ dextromethorphan
và metoprolol (cơ chất CYP2D6) trong huyết tương lần lượt là 2,6 lần và 1,5
lần. Những sự gia tăng này là do celecoxib ức chế chuyển hóa cơ chất
CYP2D6.
Ức
chế CYP2C19
Các nghiên cứu in vitro đã
cho thấy một số tiềm năng của celecoxib để ức chế sự trao đổi chất do CYP2C19
xúc tác. Ý nghĩa lâm sàng của phát hiện in vitro này vẫn
chưa được biết. Ví dụ về các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C19 là
diazepam, citalopram và imipramin.
Methotrexat
Ở
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, celecoxib không ảnh hưởng
có ý nghĩa thống kê đến dược động học (độ thanh thải trong huyết tương hoặc
thận) của methotrexat (ở liều thấp khớp). Tuy nhiên,
cần theo dõi đầy đủ độc tính liên quan đến methotrexat khi kết hợp hai thuốc
này.
Lithium
Ở
những người khỏe mạnh, sử dụng đồng thời celecoxib 200 mg x 2 lần/ngày với
lithium 450 mg x 2 lần/ngày đã làm tăng trung bình Cmax là 16%
và ở diện tích dưới đường cong (AUC) là 18% của lithium. Do đó, bệnh nhân
đang điều trị bằng lithium cần được theo dõi chặt chẽ khi bắt đầu hoặc ngưng
celecoxib.
Thuốc
tránh thai đường uống
Trong
một nghiên cứu tương tác, celecoxib không có tác dụng lâm sàng liên quan đến
dược động học của thuốc tránh thai (1 mg norethisteron/35 microgam ethinylestradiol).
Glibenclamid
/ tolbutamid
Celecoxib
không ảnh hưởng đến dược động học của tolbutamid (cơ chất CYP2C9), hoặc
glibenclamid ở mức độ phù hợp về mặt lâm sàng.
Ảnh
hưởng của các thuốc khác đối với celecoxib
Chuyển
hóa kém CYP2C9
Ở
những người có khả năng chuyển hóa kém qua enzym CYP2C9, mức độ phơi nhiễm toàn
thân với celecoxib có thể tăng cao. Việc dùng đồng thời với các chất ức chế
CYP2C9, như fluconazol, có thể làm tăng thêm mức độ phơi nhiễm này. Do đó, nên
tránh phối hợp celecoxib với các thuốc ức chế CYP2C9 ở những bệnh nhân đã biết
có kiểu gen chuyển hóa kém qua CYP2C9
Chất
ức chế và cảm ứng CYP2C9
Vì
celecoxib được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2C9, nên được sử dụng ở một nửa liều
khuyến cáo ở những bệnh nhân dùng fluconazol. Sử dụng đồng thời 200 mg
celecoxib liều duy nhất và 200 mg fluconazol một lần mỗi ngày, một chất ức chế
CYP2C9 mạnh, dẫn đến mức tăng trung bình của celecoxib Cmax là
60% và AUC là 130%. Sử dụng đồng thời các chất cảm ứng CYP2C9 như
rifampicin, carbamazepin và barbiturat có thể làm giảm nồng độ celecoxib trong
huyết tương.
Ketoconazol
và thuốc kháng acid
Ketoconazol
hoặc thuốc kháng acid không quan sát thấy ảnh hưởng đến dược động học của
celecoxib.
Trẻ
em
Nghiên
cứu tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.
Tương kỵ của thuốc
Do không
có nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các
thuốc khác.
10.
Tác dụng không mong muốn của
thuốc (ADR)
Nguy
cơ huyết khối tim mạch (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Các
phản ứng có hại được liệt kê theo hệ cơ quan và tần suất trong Bảng 1,
phản ánh dữ liệu từ các nguồn sau:
•
Các phản ứng có hại được báo cáo ở bệnh nhân viêm xương khớp và bệnh nhân viêm
khớp dạng thấp với tỷ lệ mới mắc lớn hơn 0,01% và cao hơn so với tỷ lệ được báo
cáo đối với giả dược trong 12 thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược và/hoặc
có thời gian lên đến 12 tuần với liều hàng ngày celecoxib từ 100 mg lên đến 800
mg. Trong các nghiên cứu bổ sung sử dụng chất so sánh NSAIDs không chọn lọc, khoảng 7400 bệnh
nhân viêm khớp đã được điều trị bằng celecoxib với liều hàng ngày lên đến 800
mg, trong đó khoảng 2300 bệnh nhân được điều trị trong 1 năm hoặc lâu
hơn. Các phản ứng có hại
quan sát được với celecoxib trong các nghiên cứu này phù hợp với các phản ứng
đối với bệnh nhân viêm xương khớp và viêm khớp dạng thấp được liệt kê
trong Bảng 1.
• Các phản ứng có hại được báo cáo với tỷ lệ xuất hiện
cao hơn giả dược cho các đối tượng được điều trị bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày
trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp dài hạn kéo dài đến 3 năm (Phòng ngừa u
tuyến với celecoxib (APC) và Phòng ngừa Polyp dị tật rải rác đại trực tràng
(PreSAP) thử nghiệm, An toàn tim mạch - các nghiên cứu dài hạn liên quan đến bệnh
nhân có polyp tuyến rải rác).
• Các
phản ứng có hại của thuốc giám sát sau lưu hành được báo cáo tự phát trong thời
gian ước tính có khoảng > 70 triệu bệnh nhân được điều trị bằng celecoxib
(các liều lượng, thời lượng và chỉ định khác nhau). Mặc dù đây được xác định là
phản ứng từ các báo cáo hậu tiếp thị, dữ liệu thử nghiệm đã được tham khảo để
ước tính tần suất. Tần suất dựa trên phân tích tổng hợp tích lũy với tổng hợp
các thử nghiệm thể hiện mức độ phơi nhiễm ở 38102 bệnh nhân.
Bảng 1. Các phản ứng có hại của thuốc trong
các thử nghiệm lâm sàng và kinh nghiệm giám sát của celecoxib (các thuật ngữ ưu
tiên của MedDRA)1,2
|
Phận loại hệ cơ quan
|
Tần suất phản ứng có hại của thuốc
|
|
Rất thường gặp
(≥
1/10)
|
Thường gặp
(≥
1/100 - < 1/10)
|
Ít gặp
(≥
1/1.000 - < 1/100)
|
Hiếm gặp
(≥
1/10.000 - < 1/1.000)
|
Rất hiếm gặp
(<
1/10.000)
|
Chưa biết
|
|
Nhiễm trùng và nhiễm độc
|
|
Viêm
xoang, nhiễm trùng đường hô hấp trên, viêm họng, nhiễm trùng đường tiết niệu
|
|
|
|
|
|
Rối loạn máu và hệ bạch huyết
|
|
|
Thiếu
máu
|
Giảm
bạch cầu, giảm tiểu cầu
|
Giảm
toàn thể huyết cầu 4
|
|
|
Rối loạn hệ miễn dịch
|
|
Quá
mẫn
|
|
|
Sốc
phản vệ 4
Phản
ứng phản vệ 4
|
|
|
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
|
|
|
Tăng
kali máu
|
|
|
|
|
Rối loạn tâm thần
|
|
Mất
ngủ
|
Lo
lắng, trầm cảm, mệt mỏi
|
Lú lẫn, ảo
giác 4
|
|
|
|
Rối loạn hệ thần kinh
|
|
Chóng
mặt, tăng trương lực, nhức đầu 4
|
Nhồi
máu não 1, dị cảm, buồn ngủ
|
Thất
điều, loạn vị giác
|
Xuất
huyết nội sọ (bao gồm xuất huyết nội sọ gây tử vong) 4, viêm
màng não vô khuẩn 4, động kinh (bao gồm cả động kinh nặng
thêm) 4, mất vị giác 4, mất khướu giác 4
|
|
|
Rối loạn mắt
|
|
|
Nhìn
mờ, viêm kết mạc 4
|
Xuất
huyết mắt 4
|
Tắc
động mạch võng mạc 4, tắc tĩnh mạch võng mạc 4
|
|
|
Rối loạn tai và mê đạo
|
|
|
Ù
tai, giảm thính lực 1
|
|
|
|
|
Rối loạn tim
|
|
Nhồi
máu cơ tim 1
|
Suy
tim, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh
|
Rối
loạn nhịp tim 4
|
|
|
|
Rối loạn mạch máu
|
Tăng
huyết áp 1 (bao gồm tăng huyết áp trầm trọng thêm)
|
|
|
Thuyên
tắc phổi 4, chứng đỏ bừng mặt 4
|
Viêm
mạch máu 4
|
|
|
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất
|
|
Viêm
mũi, ho, khó thở 1
|
Co
thắt phế quản 4
|
Viêm
phổi 4
|
|
|
|
Rối loạn tiêu hóa
|
|
Buồn
nôn 4, đau bụng, tiêu chảy, khó tiêu, đầy hơi, nôn 1,
khó nuốt 1
|
Táo
bón, viêm dạ dày, viêm miệng, viêm đường tiêu hóa (bao gồm làm trầm trọng
thêm tình trạng viêm đường tiêu hóa), ợ hơi
|
Xuất
huyết dạ dày-ruột 4, loét tá tràng, loét dạ dày, loét thực
quản, loét ruột, loét ruột già, thủng ruột, viêm thực quản, đại tiện ra máu,
viêm tụy, viêm đại tràng 4
|
|
|
|
Rối loạn gan mật
|
|
|
Chức
năng gan bất thường, men gan tăng (bao gồm tăng SGOT và SGPT)
|
Viêm
gan 4
|
Suy
gan 4 (đôi khi gây tử vong hoặc cần ghép gan), viêm gan
tối cấp 4 (một số dẫn đến tử vong), hoại tử gan 4,
ứ mật 4, viêm gan ứ mật 4, vàng da 4
|
|
|
Rối loạn da và mô dưới da
|
|
Phát
ban, ngứa (bao gồm ngứa toàn thân)
|
Mề
đay, bầm máu 4
|
Phù
mạch 4, rụng tóc, nhạy cảm với ánh sáng
|
Viêm
da tróc vảy 4, hồng ban đa dạng 4, hội chứng Stevens-Johnson 4,
hoại tử biểu bì nhiễm độc 4, phản ứng thuốc với tăng bạch cầu
ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS) 4, mụn mủ ngoại
ban toàn thân cấp tính (AGEP) 4, viêm da bóng nước 4
|
|
|
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
|
|
Đau
khớp 4
|
Co
thắt cơ (chuột rút ở chân)
|
|
Viêm
cơ 4
|
|
|
Rối loạn thận và tiết niệu
|
|
|
Tăng creatinin
máu, tăng urê máu
|
Suy
thận cấp 4, hạ natri máu 4
|
Viêm
thận mô kẽ 4, hội chứng thận hư 4, viêm cầu
thận tổn thương tối thiểu 4
|
|
|
Rối loạn hệ thống sinh sản và vú
|
|
|
|
Rối
loạn kinh nguyệt 4
|
|
Vô
sinh ở nữ (giảm khả năng sinh sản ở nữ) 3
|
|
Rối loạn toàn thân và tại chỗ
|
|
Bệnh
giống cúm, phù ngoại vi/ứ dịch
|
Phù
mặt, đau ngực 4
|
|
|
|
|
Chấn
thương, ngộ độc và các biến chứng thủ thuật
|
|
Chấn
thương (chấn thương do tai nạn)
|
|
|
|
|
SGOT - glutamic oxaloacetic transaminase huyết
thanh
SGPT - glutamic pyruvic transaminase trong
huyết thanh
1 Các phản ứng có hại của thuốc xảy ra
trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp, đại diện cho các đối tượng được điều trị
bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày trong 2 thử nghiệm lâm sàng kéo dài đến 3 năm
(thử nghiệm APC và PreSAP). Các phản ứng có hại của thuốc được liệt kê ở
trên đối với các thử nghiệm phòng ngừa polyp chỉ là những phản ứng đã được ghi
nhận trước đây trong kinh nghiệm giám sát sau khi tiếp thị, hoặc đã xảy ra
thường xuyên hơn so với các thử nghiệm viêm khớp.
2 Hơn nữa, các phản ứng bất lợi chưa được biết sau đây đã xảy ra trong các thử nghiệm phòng ngừa polyp, đại diện
cho các đối tượng được điều trị bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày trong 2 thử
nghiệm lâm sàng kéo dài đến 3 năm (thử nghiệm APC và PreSAP): Thường gặp: đau thắt ngực, hội chứng ruột kích
thích, sỏi thận, tăng creatinin máu, u xơ tiền liệt tuyến, tăng cân. Ít gặp: nhiễm vi khuẩn
helicobacter, herpes zoster, viêm quầng, viêm phế quản phổi, viêm mê nhĩ, nhiễm
trùng nướu, u mỡ, vẫn đục dịch kính, xuất huyết kết mạc, huyết khối tĩnh mạch
sâu, chứng khó phát âm, xuất huyết do trĩ, đi tiêu thường xuyên, loét miệng,
viêm da dị ứng, hạch, tiểu đêm, chảy máu âm đạo, căng tức ngực, gãy xương chi
dưới, tăng natri máu.
3 Phụ nữ có ý định mang thai bị loại khỏi
tất cả các thử nghiệm, do đó việc tham khảo cơ sở dữ liệu thử nghiệm về tần
suất của sự kiện này là không hợp lý.
4 Tần suất dựa trên phân tích tổng hợp
tích lũy với tổng hợp các thử nghiệm đại diện cho phơi nhiễm ở 38102 bệnh nhân.
Trong
dữ liệu cuối cùng (đã được xử lý) từ các thử nghiệm APC và PreSAP ở những bệnh
nhân được điều trị bằng celecoxib 400 mg mỗi ngày trong tối đa 3 năm (dữ liệu
tổng hợp từ cả hai thử nghiệm), tỷ lệ vượt trội so với giả dược đối với nhồi máu
cơ tim là 7,6 biến cố trên 1000 bệnh nhân (không phổ biến) và không có tỷ lệ
đột quỵ (không phân biệt loại) vượt quá so với giả dược.
11.
Quá liều và
cách xử trí
Không có kinh nghiệm lâm
sàng về quá liều. Liều đơn lên đến 1200 mg và đa liều lên đến 1200 mg x 2
lần/ngày đã được dùng cho người khỏe mạnh trong 9 ngày mà không có tác dụng
không mong muốn đáng kể về mặt lâm sàng.
Trong trường hợp nghi ngờ
quá liều, nên có các biện pháp hỗ trợ về y tế thích hợp, ví dụ bằng cách loại
bỏ chất chứa trong dạ dày, giám sát lâm sàng; nếu cần, có thể điều trị triệu
chứng. Lọc máu không phải là một phương pháp hiệu quả để loại bỏ thuốc do thuốc
liên kết với protein mạnh.
12.
Đặc tính
dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc chống viêm và
chống thấp khớp không steroid, NSAIDs, Coxibs.
Mã ATC: M01AH01.
Cơ chế tác dụng
Celecoxib là một chất ức chế COX-2 chọn lọc đường uống, trong phạm vi liều
dùng trên lâm sàng (200-400 mg mỗi ngày). Không thấy có sự ức chế có ý
nghĩa thống kê đối với COX-1 (được đánh giá là ức chế ex vivo hình thành thromboxan B2 [TxB2]) trong
phạm vi liều này ở những người tình nguyện khỏe mạnh.
Tác dụng dược lực học
Cyclooxygenase chịu trách nhiệm tạo ra các prostaglandin. Hai đồng
dạng, COX-1 và COX-2, đã được xác định. COX-2 là dạng đồng phân của enzym
đã được chứng minh là gây ra bởi các kích thích tiền viêm và đã được công nhận
là chịu trách nhiệm chính trong việc tổng hợp các chất trung gian prostanoid
gây đau, viêm và sốt. COX-2 cũng tham gia vào quá trình rụng trứng, làm tổ
và đóng ống động mạch, điều
hòa chức năng thận và các chức năng của hệ thần kinh trung ương (cảm ứng sốt, cảm
nhận cơn đau và chức năng nhận thức). Nó cũng có thể đóng một vai trò
trong việc chữa lành vết loét. COX-2 đã được xác định trong mô xung quanh
vết loét dạ dày ở người nhưng mức độ liên quan của nó đối với việc chữa lành vết
loét vẫn chưa được xác định.
Sự khác biệt về hoạt tính chống kết tập tiểu cầu giữa một số NSAIDs ức chế COX-1 và thuốc ức chế chọn
lọc COX-2 có thể có ý nghĩa lâm sàng ở những bệnh nhân có nguy cơ bị phản ứng huyết khối. Thuốc ức
chế chọn lọc COX-2 làm giảm sự hình thành của prostacyclin toàn thân (và
do đó có thể ở nội mạc) mà không ảnh hưởng đến thromboxan của tiểu cầu.
Celecoxib là một pyrazol được thay thế bằng diaryl, tương tự về mặt hóa học với các
sulfonamid không phải arylamin khác (ví dụ: thiazid, furosemid) nhưng khác với
arylamin sulfonamid (ví dụ: sulfamethoxizol và các kháng sinh sulfonamid khác).
Một tác dụng không mong muốn thuộc vào liều lượng trên sự hình thành TxB2 đã
được quan sát thấy sau khi dùng liều cao celecoxib. Tuy nhiên, ở những đối
tượng khỏe mạnh, trong các nghiên cứu liều nhỏ với 600 mg BID (gấp ba lần liều
khuyến cáo cao nhất) celecoxib không có ảnh hưởng đến kết tập tiểu cầu và thời
gian chảy máu so với giả dược.
13.
Đặc tính dược động học
Hấp thu
Celecoxib được hấp thu tốt và đạt nồng độ đỉnh trong
huyết tương sau khoảng 2-3 giờ. Dùng chung với thức ăn (bữa ăn nhiều chất béo)
làm chậm sự hấp thu của celecoxib khoảng 1 giờ dẫn đến Tmax khoảng 4
giờ và làm tăng sinh khả dụng khoảng 20%.
Ở những người tình nguyện trưởng thành khỏe mạnh,
mức phơi nhiễm toàn thân (AUC) của celecoxib là tương đương khi celecoxib được
sử dụng dưới dạng viên nang còn nguyên vẹn hoặc phần thuốc được rắc trên
nước sốt táo. Không có sự thay đổi đáng kể nào về Cmax , Tmax
hoặc T1/2
sau khi sử dụng phần thuốc trong nước sốt táo.
Phân bố
Liên kết với protein
huyết tương là khoảng 97% ở nồng độ điều trị trong huyết tương và celecoxib
không ưu tiên liên kết với hồng cầu.
Chuyển hóa
Celecoxib được chuyển hóa chủ yếu qua CYP2C9. Ba sản phẩm chuyển hóa
không có tác dụng ức chế COX-1 hoặc COX-2 được nhận diện trong huyết tương
người là alcol bậc nhất, acid carboxylic tương ứng và liên hợp glucuronid của
nó.
Hoạt tính của CYP2C9 giảm
ở người có đa hình di truyền và điều này dẫn đến giảm hoạt tính enzym, ví dụ
người đồng hợp tử với đa hình CYP2C9*3.
Trong nghiên cứu dược
động học với celecoxib 200 mg dùng 1 lần/ngày ở người tình nguyện khỏe mạnh,
kiểu gen là CYP2C9*1/*1, CYP2C9*1/*3, hoặc CYP2C9*3/*3, giá trị
trung bình Cmax và AUC0-24 của celecoxib vào
ngày 7 lần lượt là xấp xỉ gấp 4 lần và 7 lần, ở những người có kiểu gen
CYP2C9*3/*3 so với các kiểu gen khác. Trong 3 nghiên cứu đơn liều riêng rẽ, có
tổng cộng 5 đối tượng có kiểu gen CYP2C9*3/*3, giá trị AUC0-24 của
liều đơn tăng khoảng 3 lần so với những người chuyển hóa bình thường. Ước tính
tần suất xuất hiện của kiểu gen *3/*3 là 0,3% đến 1,0% ở các nhóm dân tộc khác
nhau.
Bệnh nhân đã biết hoặc nghi ngờ có chuyển hóa CYP2C9 kém dựa trên tiền
sử/kinh nghiệm với các cơ chất khác của CYP2C9 nên thận trọng khi dùng
celecoxib.
Không tìm thấy sự
khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về các thông số Dược động học của celecoxib giữa
người Mỹ gốc Phi và người da trắng cao tuổi.
Nồng độ celecoxib
trong huyết tương tăng khoảng 100% ở phụ nữ cao tuổi (> 65 tuổi).
So với những bệnh nhân có chức
năng gan bình thường, bệnh nhân suy gan nhẹ có mức tăng Cmax trung
bình là 53% và AUC của celecoxib là 26%. Các giá trị tương ứng ở bệnh nhân
suy gan trung bình lần lượt là 41% và 146%. Khả năng chuyển hóa ở những
bệnh nhân bị suy giảm nhẹ đến trung bình có mối tương quan tốt nhất với giá trị
albumin của họ. Điều trị nên được bắt đầu với một nửa liều khuyến cáo ở
bệnh nhân suy gan trung bình (với albumin huyết thanh 25-35 g/l). Bệnh
nhân suy gan nặng (albumin huyết thanh <25 g/l) chưa được nghiên cứu và
chống chỉ định dùng celecoxib ở nhóm bệnh nhân này.
Có rất ít kinh nghiệm về việc dùng
celecoxib ở người suy thận. Dược động học của celecoxib chưa được nghiên
cứu ở bệnh nhân suy thận nhưng không có khả năng thay đổi rõ rệt ở những bệnh
nhân này. Vì vậy, nên thận trọng khi điều trị cho bệnh nhân suy
thận. Chống chỉ định đối với bệnh nhân suy thận nặng.
Thải trừ
Celecoxib được thải trừ chủ yếu qua quá trình chuyển hóa. Dưới 1% liều
dùng được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu. Sự thay đổi giữa các
đối tượng khi tiếp xúc với celecoxib là khoảng 10 lần. Celecoxib cho thấy
dược động học không phụ thuộc vào liều lượng và thời gian trong phạm vi liều
điều trị. Thời gian bán thải là 8-12 giờ. Nồng độ thuốc trong huyết
tương ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 5 ngày kể từ ngày điều trị.
14. Quy
cách đóng gói:
Hộp 3 vỉ, 10 vỉ x 10 viên, Chai 200
viên.
15.
Điều kiện bảo quản: Nơi khô, thoáng, nhiệt độ
dưới 30oC, tránh ánh sáng.
16.
Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
17.
Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc: Tiêu chuẩn cơ sở.
Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất
CÔNG TY CỔ PHẦN
US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường
D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân An Hội, Huyện Củ
Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại
028-37908860