Rx
Thuốc
này chỉ dùng theo đơn thuốc
Đọc kỹ hướng dẫn
sử dụng trước khi dùng
Để xa tầm tay trẻ em
Etoricoxib
90 mg
1. Thành phần
công thức thuốc:
Mỗi viên nén bao phim chứa:
Thành
phần dược chất: Etoricoxib............................................................................. 90
mg
Thành phần tá dược: Tinh
bột ngô, Avicel PH 101, Polyvinyl pyrrolidon K30, Natri
starch glycolat, Talc, Magnesi Stearat, Colloidal
silicon dioxyd, Hydroxypropylmethyl cellulose (HPMC) 606, Hydroxypropylmethyl cellulose (HPMC)
615, Titan dioxyt, Dầu thầu dầu, Màu Tartrazin yellow lake, Màu Brilliant Blue
Dye.
2. Dạng bào chế: Viên nén
bao phim.
Mô tả sản phẩm: Viên nén bao phim màu xanh,
thành và cạnh viên lành lặn.
3. Chỉ định
ETORICOXIB 90-HV được
chỉ định:
- Điều
trị cấp tính và mạn tính các dấu hiệu và triệu chứng bệnh thoái hóa khớp
(osteoarthritis - OA) và viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis - RA).
- Điều
trị viêm đốt sống dính khớp (ankylosing spondylitis - AS).
- Điều
trị viêm khớp Gút cấp tính (acute gouty arthritis).
- Điều
trị các cơn đau cấp tính, bao gồm chứng đau bụng kinh nguyên phát.
- Điều
trị ngắn hạn các cơn đau vừa liên quan đến phẫu thuật răng.
Quyết
định kê đơn chất ức chế chọn lọc COX-2 phải dựa trên việc đánh giá toàn bộ các
nguy cơ đối với từng bệnh nhân (xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
4. Cách dùng,
liều dùng
ETORICOXIB 90-HV được
dùng bằng đường uống, có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn. Etoricoxib nên được
dùng trong thời gian ngắn nhất có thể và với liều hàng ngày thấp nhất mà có
hiệu quả.
Thoái
hóa khớp
Liều
đề nghị cho người lớn là 30 mg hoặc 60 mg ngày 1 lần.
Viêm
khớp dạng thấp
Liều
đề nghị cho người lớn là 60 mg hoặc 90 mg ngày 1 lần. Liều tối thiểu hàng ngày
có tác dụng là 60 mg ngày 1 lần. Ở một số bệnh nhân, liều 90 mg ngày 1 lần có
thể cung cấp sự gia tăng lợi ích của trị liệu.
Viêm
đốt sống dính khớp
Liều
đề nghị cho người lớn là 60 mg hoặc 90 mg ngày 1 lần. Liều tối thiểu hàng ngày
có tác dụng là 60 mg ngày 1 lần. Ở một số bệnh nhân, liều 90 mg ngày 1 lần có
thể cung cấp sự gia tăng lợi ích của trị liệu.
Viêm
khớp thống phong cấp tính
Liều
đề nghị cho người lớn là 120 mg ngày 1 lần. Chỉ nên dùng etoricoxib 120 mg
trong giai đoạn có triệu chứng cấp tính, với thời gian điều trị tối đa là 8
ngày.
Đau
cấp tính và đau bụng kinh nguyên phát
Liều
đề nghị là 120 mg ngày 1 lần. Chỉ nên dùng etoricoxib 120 mg trong giai đoạn có triệu chứng cấp tính,
với thời gian điều trị tối đa là 8 ngày.
Đau
sau phẫu thuật nha khoa
Liều
đề nghị là 90 mg ngày 1 lần, dùng tối đa trong 3 ngày, một số bệnh nhân có thể
cần dùng thêm thuốc giảm đau.
Các
liều cao hơn liều đề nghị cho mỗi chỉ định trên vẫn không làm tăng thêm hiệu
lực của thuốc hoặc vẫn chưa được nghiên cứu. Do đó:
Liều
dùng trong thoái hóa khớp không vượt quá 60 mg mỗi ngày.
Liều
dùng trong viêm khớp dạng thấp không vượt quá 90 mg mỗi ngày.
Liều
dùng trong viêm đốt sống dính khớp không được vượt quá 90 mg mỗi ngày.
Liều
dùng trong bệnh thống phong cấp tính không được vượt quá 120 mg ngày 1 lần.
Liều
dùng trong đau cấp tính và đau bụng kinh nguyên phát không được vượt quá 120
mg/ngày.
Liều
dùng trong đau sau phẫu thuật nha khoa không được vượt quá 90 mg mỗi ngày.
Vì
các nguy cơ tim mạch có thể tăng theo liều dùng và thời gian dùng những chất ức
chế chọn lọc COX-2, do đó nên dùng thuốc trong thời gian ngắn nhất có thể và dùng
liều hiệu quả hàng ngày thấp nhất. Nên đánh giá lại định kỳ nhu cầu về giảm
triệu chứng và đáp ứng điều trị của bệnh nhân (xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Người
cao tuổi, Giới tính, Chủng tộc
Không
cần điều chỉnh liều etoricoxib
ở người cao tuổi hoặc dựa theo giới tính hoặc chủng tộc.
Suy
gan
Ở
bệnh nhân suy gan nhẹ (điểm số Child-Pugh 5-6), liều dùng không nên vượt quá 60
mg ngày 1 lần. Ở bệnh nhân suy gan trung bình (điểm số Child-Pugh 7-9), nên
giảm liều; không nên vượt quá liều 60 mg 2 ngày 1 lần, cũng có thể xem xét dùng
liều 30 mg ngày 1 lần. Không có tài liệu lâm sàng hoặc dược động học khi dùng
thuốc ở bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child-Pugh > 9) (xem Cảnh báo và thận
trọng khi dùng thuốc).
Suy
thận
Không
khuyến cáo điều trị với etoricoxib
ở bệnh nhân có bệnh thận tiến triển (hệ số thanh thải creatinin < 30
mL/phút). Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận mức độ nhẹ hơn (hệ số thanh
thải creatinin ≥ 30 mL/phút) (xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Đối
với các liều dùng không phù hợp với hàm lượng etoricoxib 90 mg, nên sử dụng các
loại thuốc khác có hàm lượng đúng theo hướng dẫn.
5. Chống chỉ định
Chống chỉ định
dùng ETORICOXIB 90-HV ở bệnh nhân:
-
Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc. Tiền sử
hen phế quản, nổi mề đay hoặc các phản ứng dị ứng sau khi dùng aspirin hoặc các
thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) khác.
-
Suy tim sung huyết (NYHA II-IV).
-
Bệnh nhân cao huyết áp có huyết áp liên tục tăng cao
trên 140/90 mmHg và chưa được kiểm soát đầy đủ.
-
Bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch ngoại biên
và/hoặc bệnh mạch máu não đã được xác định (bao gồm bệnh nhân mới trải qua phẫu
thuật ghép bắc cầu động mạch vành hoặc tạo hình mạch máu).
-
Rối loạn chức năng gan nặng (albumin huyết thanh <
25 g/l hoặc điểm số Child-Pugh ≥ 10).
-
Loét dạ dày tá tràng hoạt động hoặc chảy máu (GI) tiêu
hóa.
-
Độ thanh thải creatinin < 30 mL/phút.
-
Phụ nữ có thai và cho con bú.
-
Trẻ em dưới 16 tuổi.
Không nên sử dụng etoricoxib như liệu pháp kết
hợp với các thuốc NSAID khác do không có đầy đủ bằng chứng chứng minh cho lợi
ích và các phản ứng phụ bất lợi có thể gặp phải.
6. Cảnh báo
và thận trọng khi dùng thuốc
Nguy
cơ huyết khối tim mạch: Các thuốc NSAID, không phải aspirin, dùng đường toàn
thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả
nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất
hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc.
Nguy
cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.
Bác
sĩ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh
nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về
các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sĩ ngay
khi xuất hiện các triệu chứng này.
Để
giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng etoricoxib ở liều
hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Những
thử nghiệm lâm sàng gợi ý nhóm thuốc ức chế chọn lọc COX-2 có thể kèm theo tăng
nguy cơ các biến cố do huyết khối (đặc biệt là nhồi máu cơ tim và đột quỵ), so
với placebo và vài thuốc kháng viêm không steroid (naproxen). Vì các nguy cơ
tim mạch có thể tăng theo liều dùng và thời gian dùng những chất ức chế chọn
lọc COX-2, do đó nên dùng thuốc trong thời gian ngắn nhất có thể và dùng liều
hiệu quả hàng ngày thấp nhất. Nên đánh giá lại định kỳ nhu cầu về giảm triệu
chứng và đáp ứng điều trị của bệnh nhân.
Chỉ
nên dùng etoricoxib sau khi cân nhắc cẩn thận ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ
rõ rệt về biến cố tim mạch (như tăng huyết áp, tăng lipid máu, đái tháo đường,
hút thuốc).
Các
chất ức chế chọn lọc COX-2 không phải là chất thay thế aspirin trong dự phòng
tim mạch vì không có tác dụng lên tiểu cầu. Do etoricoxib là thành viên trong
nhóm thuốc này, không có tác dụng ức chế sự kết tụ tiểu cầu, nên không được
ngưng các thuốc kháng tiểu cầu.
Nguy
cơ có các tác dụng bất lợi ở dạ dày-ruột (loét dạ dày-ruột hoặc các biến chứng
khác ở dạ dày-ruột) tăng thêm khi dùng etoricoxib, các chất ức chế chọn lọc
COX-2 khác và thuốc NSAID khác cùng lúc với acid acetylsalicylic (thậm chí với
liều thấp). Sự khác biệt tương đối về tính an toàn ở dạ dày-ruột giữa phác đồ
dùng các chất ức chế chọn lọc COX-2 + acid acetylsalicylic so với dùng NSAID +
acid acetylsalicylic chưa được đánh giá đầy đủ trong những thử nghiệm lâm sàng
dài hạn.
Không
khuyến cáo dùng trị liệu etoricoxib cho bệnh nhân có bệnh thận tiến triển nặng.
Kinh nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân có hệ số thanh thải creatinin ước lượng <30
mL/phút rất hạn chế. Nếu phải khởi đầu trị liệu etoricoxib cho những bệnh nhân
này, nên giám sát chức năng thận của bệnh nhân chặt chẽ.
Sử
dụng lâu dài NSAID gây hoại tử nhú thận và tổn thương khác ở thận. Các
prostaglandin sản xuất tại thận có thể có vai trò bù đắp sự duy trì tưới máu
thận. Do đó, trong các điều kiện giảm tưới máu thận, việc sử dụng etoricoxib có
thể làm giảm sự thành lập prostaglandin và giảm lưu lượng máu tới thận thứ phát
và như vậy làm giảm chức năng thận.
Những
bệnh nhân có nguy cơ cao nhất gặp phản ứng này là người đã giảm chức năng thận,
người suy tim mất bù, hoặc người bị xơ gan đáng kể từ trước. Nên xem xét giám
sát chức năng thận ở các bệnh nhân như thế. Như các thuốc khác có tác dụng ức
chế sự tổng hợp prostaglandin, việc
ngưng trị liệu etoricoxib sẽ dẫn đến phục hồi tình trạng trước khi điều trị.
Cần
thận trọng khi bắt đầu trị liệu etoricoxib ở bệnh nhân có tình trạng mất nước
đáng kể. Nên bù nước cho bệnh nhân trước khi bắt đầu dùng etoricoxib.
Như
các thuốc khác có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, tình trạng giữ nước,
phù và tăng huyết áp cũng được ghi nhận ở vài bệnh nhân dùng etoricoxib. Nên
tính đến khả năng giữ nước, phù hoặc tăng huyết áp này khi dùng etoricoxib cho
bệnh nhân đã có sẵn tình trạng giữ nước, tăng huyết áp hoặc suy tim. Tất cả các
thuốc NSAID bao gồm cả etoricoxib có thể liên quan đến sự khởi phát mới hoặc sự
tái phát suy tim sung huyết. Etoricoxib có thể phối hợp với tình trạng tăng
huyết áp thường xuyên hơn và nặng hơn, so với vài NSAID và các chất ức chế chọn
lọc COX-2 khác, đặc biệt khi dùng liều cao. Do đó, chú ý đặc biệt đến kiểm tra
huyết áp trong quá trình điều trị với etoricoxib. Nếu huyết áp tăng đáng kể,
phải xem xét trị liệu khác thay thế.
Bác
sĩ nên biết là từng bệnh nhân có thể phát triển loét các biến chứng của loét
đường tiêu hóa trên, không kể việc điều trị. Mặc dù không loại trừ nguy cơ độc
tính cho đường tiêu hóa khi dùng etoricoxib, các kết quả của Chương trình MEDAL
đã chứng minh ở bệnh nhân dùng trị liệu etoricoxib, nguy cơ độc tính cho đường
tiêu hóa khi dùng etoricoxib 60 mg hoặc 90 mg ngày 1 lần ít hơn rõ rệt so với
dùng diclofenac 150 mg mỗi ngày. Trong nghiên cứu lâm sàng với ibuprofen và
naproxen, nguy cơ loét đường tiêu hóa trên phát hiện qua nội soi ở bệnh nhân
dùng etoricoxib 120 mg ngày 1 lần thì thấp hơn so với các bệnh nhân dùng các
NSAID không chọn lọc này. Trong khi nguy cơ loét đường tiêu hóa phát hiện qua
nội soi thấp ở bệnh nhân dùng etoricoxib 120 mg, thì nguy cơ này lại cao hơn ở
bệnh nhân dùng placebo. Loét/ các biến chứng loét đường tiêu hóa trên được ghi
nhận ở bệnh nhân dùng etoricoxib và có thể xảy ra vào bất kỳ thời điểm nào trong
thời gian điều trị và không có các triệu chứng báo trước. Bệnh nhân có tiền sử
thủng, loét và xuất huyết đường tiêu hóa và bệnh nhân hơn 65 tuổi đều được biết
rõ có nguy cơ bị các biến cố này cao hơn, không phụ thuộc vào điều trị.
Khoảng
1% bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng dùng etoricoxib 30, 60, và 90 mg mỗi
ngày kéo dài đến 1 năm đã tăng alanin aminotransferase (ALT) và/hoặc aspartate aminotransferase
(AST) (xấp xỉ > 3 lần mức tối đa bình thường). Trong các nhóm chứng của những
thử nghiệm lâm sàng dùng các hoạt chất khác so sánh, tỷ lệ AST và/hoặc ALT tăng
cao ở bệnh nhân dùng etoricoxib 60 và 90 mg mỗi ngày thì tương tự như ở nhóm
bệnh nhân dùng naproxen 1.000 mg mỗi ngày, nhưng thấp hơn rõ rệt so với nhóm
dùng diclofenac 150 mg mỗi ngày. Sự gia tăng các men này đã khỏi hẳn ở bệnh
nhân dùng trị liệu etoricoxib, với khoảng >2 bệnh nhân hết tăng men gan
trong khi vẫn dùng thuốc. Trong những thử nghiệm lâm sàng có đối chứng etoricoxib
30 mg mỗi ngày với ibuprofen 2.400 mg mỗi ngày hoặc celecoxib 200 mg mỗi ngày,
tỷ lệ tăng ALT hoặc AST đều giống nhau ở các nhóm.
Nên
xét nghiệm đánh giá chức năng gan bất thường liên tục ở bệnh nhân có các triệu
chứng và/hoặc dấu hiệu gợi ý rối loạn chức năng gan, hoặc ở người đã có xét
nghiệm chức năng gan bất thường. Phải ngưng trị liệu etoricoxib nếu xét nghiệm
chức năng gan bất thường liên tục (gấp 3 lần mức tối đa bình thường).
Nên
sử dụng etoricoxib cẩn thận ở bệnh nhân đã từng có cơn hen cấp tính, bị mề đay,
hoặc viêm mũi trước đó do cảm ứng với các thuốc nhóm salicylate hoặc các chất
ức chế cyclooxygenase không chọn lọc. Vì sinh lý bệnh của những phản ứng này
chưa được biết rõ, bác sĩ cần cân nhắc lợi ích tiềm năng của trị liệu etoricoxib
so với các nguy cơ có thể gặp.
Khi
dùng etoricoxib ở người cao tuổi và ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thận, gan
hoặc tim, cần duy trì chế độ chăm sóc y tế phù hợp. Nếu các bệnh nhân này có
diễn tiến bệnh xấu dần trong lúc điều trị, phải thực hiện những biện pháp phù
hợp, bao gồm ngưng trị liệu.
Trong
giám sát hậu mãi, rất hiếm có các báo cáo về những phản ứng da nghiêm trọng, mà
vài phản ứng có thể gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội chứng
Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc xảy ra khi dùng NSAID và vài chất
ức chế chọn lọc COX-2. Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng này có thể xảy
ra mà không báo trước.
Hình
như bệnh nhân có nguy cơ cao nhất gặp các phản ứng này sớm trong quá trình điều
trị: phần lớn các trường hợp có phản ứng khởi phát trong tháng đầu điều trị. Đã
có các báo cáo những phản ứng mẫn cảm nặng (như phản ứng phản vệ và phù mạch) ở
bệnh nhân dùng etoricoxib. Một vài chất ức chế chọn lọc COX-2 thường phối hợp
với tăng nguy cơ phản ứng da ở bệnh nhân có tiền căn dị ứng bất kỳ loại thuốc
nào. Cần ngưng trị liệu etoricoxib khi bắt đầu có biểu hiện phát ban ở da, các
tổn thương niêm mạc hoặc bất kỳ dấu hiệu khác của phản ứng quá mẫn.
Etoricoxib
có thể che đậy triệu chứng sốt, là dấu hiệu của bệnh nhiễm khuẩn. Bác sĩ nên biết
rõ vấn đề này khi dùng etoricoxib cho bệnh nhân đang điều trị bệnh nhiễm khuẩn.
CẢNH BÁO VỀ TÁ DƯỢC:
Sản phẩm có chứa Tartrazin yellow lake, Brilliant
Blue Dye có thể gây một số phản ứng dị ứng.
Thuốc có chứa dầu thầu dầu có
thể gây đau bụng và tiêu chảy.
Thuốc chứa ít hơn 1 mmol natri
(23 mg) mỗi viên, nghĩa là về cơ bản “không có natri”.
7. Sử dụng
thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú
Sử
dụng thuốc cho phụ nữ có thai
Như các thuốc khác có tác dụng ức chế tổng
hợp prostaglandin, nên tránh dùng ETORICOXIB 90-HV trong những tháng cuối của
thai kỳ vì có thể gây đóng sớm ống động mạch.
Nghiên cứu độc tính lên khả năng sinh sản
được tiến hành ở chuột cống đã chứng minh không có bằng chứng về những bất
thường trong sự phát triển phôi thai khi dùng liều thuốc đến 15 mg/kg/ngày (xấp
xỉ 1,5 lần liều ở người [90 mg] dựa vào sự tiếp xúc toàn thân), ở các liều xấp xỉ
2 lần liều tiếp xúc ở người trưởng thành (90 mg) dựa vào sự tiếp xúc toàn thân,
người ta ghi nhận có tỷ lệ thấp về dị dạng tim mạch và gia tăng hư thai sau khi
cấy thụ tinh ở thỏ điều trị bằng etoricoxib. Không tìm thấy tác dụng lên sự
phát triển phôi thai khi liều tiếp xúc toàn thân gần bằng hoặc kém hơn liều
hàng ngày ở người (90 mg). Tuy nhiên, những nghiên cứu khả năng sinh sản ở động
vật không phải lúc nào cũng dự đoán được đáp ứng ở người. Không có những nghiên
cứu phù hợp và đối chứng tốt ở phụ nữ có thai. Chỉ nên dùng ETORICOXIB 90-HV
trong 2 quý đầu của thai kỳ khi lợi ích tiềm năng hơn hẳn nguy cơ có thể xảy ra
cho thai nhi.
Khả năng sinh sản
Etoricoxib, cũng như các thuốc ức chế
COX-2 khác, tránh dùng cho phụ nữ đang muốn có thai.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú
Etoricoxib được bài tiết trong sữa chuột
mẹ. vẫn chưa biết rõ thuốc này có bài tiết vào sữa người hay không. Vì có nhiều
thuốc được bài tiết trong sữa người và vì các tác dụng phụ của những thuốc ức
chế tổng hợp prostaglandin có thể xảy ra ở trẻ nhỏ bú mẹ, nên tùy theo tầm quan
trọng của thuốc đối với người mẹ mà quyết định hoặc ngưng bú mẹ hoặc ngưng dùng
thuốc.
8. Ảnh hưởng
của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Không có thông tin nào gợi ý ETORICOXIB
90-HV tác động lên khả năng lái xe hoặc vận hành máy khi bệnh nhân đang dùng
thuốc. Các bệnh nhân bị hoa mắt, chóng mặt, buồn ngủ khi dùng etoricoxib nên
hạn chế lái xe và vận hành máy móc.
9. Tương tác, tương kỵ của
thuốc
Tương
tác của thuốc:
Warfarin: Ở đối tượng ổn
định với trị liệu warfarin mạn tính, phác đồ etoricoxib 120 mg mỗi ngày thường
liên kết với tăng khoảng 13% tỉ số chuẩn hóa quốc tế về thời gian prothrombin (International
Normalized Ratio - INR). Nên kiểm tra thường lệ các giá trị INR khi bắt đầu hoặc
thay đổi điều trị với etoricoxib, đặc biệt là trong vài ngày đầu ở bệnh nhân
dùng warfarin hoặc các thuốc tương tự.
Rifampin: Dùng etoricoxib cùng
lúc với rifampin, một chất gây cảm ứng mạnh sự chuyển hóa qua gan đã làm giảm
65% diện tích dưới đường cong (AUC) biểu diễn nồng độ etoricoxib trong huyết
tương. Nên tính đến sự tương tác này khi dùng etoricoxib cùng lúc với rifampin.
Methotrexat:
Có 2 thử nghiệm nghiên cứu tác động của etoricoxib liều 60, 90 hoặc 120 mg dùng
ngày 1 lần trong 7 ngày ở bệnh nhân đang dùng methotrexat liều 7,5 - 20 mg tuần
1 lần để điều trị viêm đa khớp dạng thấp. Etoricoxib liều 60 và 90 mg không ảnh
hưởng đến nồng độ methotrexate trong huyết tương (đánh giá qua AUC) hoặc sự
thanh thải thuốc qua thận. Trong 1 thử nghiệm, etoricoxib 120 mg không tác động
đến nồng độ methotrexat trong huyết tương (đánh giá qua AUC) hoặc sự thanh thải
thuốc qua thận. Trong thử nghiệm còn lại, etoricoxib 120 mg làm tăng nồng độ
methotrexat trong huyết tương đến 28% (đánh giá qua AUC) và làm giảm thanh thải
methotrexat qua thận đến 13%. Nên giám sát khả năng gây độc liên quan đến
methotrexat khi dùng etoricoxib liều cao hơn 90 mg mỗi ngày và dùng trị liệu
methotrexat cùng lúc.
Các thuốc lợi tiểu, ức chế men chuyển angiotensin
(ACE) và thuốc đối kháng angiotensin II (AHA): Các báo cáo gợi
ý NSAID bao gồm các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 có thể làm giảm hiệu lực điều
trị tăng huyết áp của các thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế ACE và thuốc đối kháng angiotensin
II. Nên để ý đến sự tương tác này khi dùng etoricoxib cùng lúc với các loại
thuốc này. Ở một số bệnh nhân giảm chức năng thận (như bệnh nhân cao tuổi hoặc
bệnh nhân mất thể tích dịch tuần hoàn, bao gồm bệnh nhân dùng liệu pháp lợi
tiểu) đang dùng các thuốc kháng viêm không steroid, bao gồm thuốc ức chế chọn
lọc COX-2, việc dùng đồng thời các thuốc ức chế ACE hoặc đối kháng angiotensin
II có thể làm chức năng thận càng xấu hơn, bao gồm khả năng suy thận cấp. Các
tác động này thường có thể phục hồi. Do đó, nên cẩn thận khi phối hợp các
thuốc, đặc biệt ở người cao tuổi.
Lithi: Các báo cáo gợi
ý NSAID không chọn lọc và thuốc ức chế chọn lọc COX-2 có thể làm tăng nồng độ
lithi trong huyết tương. Nên tính đến sự tương tác này khi cho bệnh nhân dùng etoricoxib
cùng lúc với lithi.
Aspirin: Có thể dùng etoricoxib
cùng lúc với aspirin liều thấp để dự phòng bệnh tim mạch, ở trạng thái bền
vững, etoricoxib 120 mg ngày 1 lần không tác động lên hoạt tính kháng tiểu cầu
của aspirin liều thấp (81 mg ngày 1 lần). Tuy nhiên, dùng aspirin liều thấp
đồng thời với etoricoxib làm tăng tỷ lệ loét đường tiêu hóa hoặc các biến chứng
khác khi so với dùng etoricoxib đơn trị liệu, (xem Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)
Viên uống tránh thai:
Etoricoxib 60 mg dùng cùng lúc với viên uống tránh thai chứa 35 mcg ethinyl
estradiol và 0,5-1 mg norethindron trong 21 ngày đã làm tăng AUC0-24 giờ
của ethinyl estradiol ở trạng thái bền vững đến 37%. AUC0-24 giờ của
ethinyl estradiol ở trạng thái bền vững đã tăng đến 50-60% khi etoricoxib 120
mg dùng cùng lúc hoặc cách 12 giờ với loại viên uống tránh thai này. Cần tính
đến sự gia tăng nồng độ ethinyl estradiol khi chọn lựa loại viên uống tránh
thai dùng chung với etoricoxib. Tăng tiếp xúc lượng ethinyl estradiol có thể làm
tăng tỷ lệ các tác dụng bất lợi thường liên kết với dùng các viên uống tránh
thai (như các biến cố huyết khối tắc tĩnh mạch ở phụ nữ có nguy cơ).
Trị liệu thay thế hocmon:
Etoricoxib 120 mg dùng cùng với trị liệu thay thế hocmon chứa các estrogen liên
hợp (0,625 mg PREMARIN™ ) trong 28 ngày, đã làm tăng AUC0-24 giờ trung
bình ở trạng thái bền vững của estron không liên hợp (41%), equilin (76%) và
17-β-estradiol (22%). Tác động của các liều etoricoxib khuyến cáo (30, 60 và 90
mg) dùng kéo dài chưa được nghiên cứu. Tác động của etoricoxib 120 mg lên nồng
độ (AUC0-24 giờ) các thành phần estrogen này trong PREMARIN™ thì kém
hơn phân nửa so với tác động quan sát được khi dùng PREMARIN™ đơn độc và khi
liều thuốc tăng từ 0,625 đến 1,25 mg. vẫn chưa biết rõ ý nghĩa lâm sàng của các
sự gia tăng này và vẫn chưa có nghiên cứu về phác đồ phối hợp PREMARIN™ liều
cao hơn với etoricoxib. Nên tính đến sự gia tăng nồng độ các estrogen khi chọn
lựa trị liệu thay thế hocmon sau mạn kinh để dùng với etoricoxib.
Các thuốc khác:
Trong các nghiên cứu về tương tác thuốc, etoricoxib không có các tác động quan
trọng trên lâm sàng lên dược động học của prednison/prednisolon hoặc digoxin.
Những thuốc kháng acid và ketoconazol (1
chất ức chế mạnh CYP3A4) không có các tác động quan trọng lên dược động học lâm
sàng của etoricoxib.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương
kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
10. Tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR)
Tính
an toàn của etoricoxib được đánh giá trong những thử nghiệm lâm sàng trên 9.295
cá thể, bao gồm 5.774 bệnh nhân bị viêm xương-khớp, viêm đa khớp dạng thấp hoặc
đau thắt lưng mạn tính (xấp xỉ 600 bệnh nhân bị viêm xương-khớp hoặc viêm đa
khớp dạng thấp được điều trị 1 năm hoặc lâu hơn).
Các
tác dụng bất lợi liên quan đến thuốc sau đây được báo cáo trong những thử
nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân bị thoái hóa khớp, viêm đa khớp dạng thấp hoặc đau
thắt lưng mạn tính được điều trị đến 12 tuần. Các tác dụng bất lợi xảy ra ≥ 1%
bệnh nhân dùng etoricoxib và với tỷ lệ cao hơn so với placebo là: suy nhược/mệt
mỏi, choáng váng, phù chi dưới, tăng huyết áp, khó tiêu, ợ nóng, buồn nôn, nhức
đầu, tăng ALT, tăng AST. Các tác dụng bất lợi giống nhau ở bệnh nhân bị thoái
hóa khớp hoặc viêm đa khớp dạng thấp dùng trị liệu etoricoxib trong 1 năm hoặc
lâu hơn.
Trong
nghiên cứu MEDAL, là nghiên cứu có tiêu chí đánh giá là kết quả tim mạch tiến
hành trên 23.504 bệnh nhân, tính an toàn của etoricoxib liều 60 hoặc 90 mg mỗi
ngày thì tương đương với diclofenac liều 150 mg mỗi ngày ở bệnh nhân bị thoái
hóa khớp hoặc viêm đa khớp dạng thấp (thời gian điều trị trung bình là 20
tháng). Trong nghiên cứu quy mô lớn này, chỉ có các tác dụng bất lợi nghiêm
trọng và các trường hợp ngưng thuốc do tác dụng bất lợi mới được ghi chép. Tỷ
lệ các tác dụng bất lợi nghiêm trọng ở tim mạch do huyết khối đã được xác định
ở dân số dùng etoricoxib và diclofenac đều giống nhau. Tỷ lệ ngưng tham gia nghiên
cứu do các tác dụng bất lợi liên quan đến tăng huyết áp chưa đến 3% ở mỗi nhóm điều
trị; tuy nhiên, etoricoxib 60 và 90 mg có tỷ lệ ngưng thuốc do các tác dụng này
cao hơn rõ rệt so với diclofenac. Tỷ lệ các tác dụng bất lợi về suy tim sung
huyết (ngưng trị liệu và tác dụng nghiêm trọng) và tỷ lệ ngưng tham gia nghiên
cứu do phù thì tương tự nhau giữa nhóm etoricoxib 60 mg và nhóm diclofenac; tuy
nhiên, tỷ lệ các biến cố này ở dân số dùng etoricoxib 90 mg thì cao hơn so với
diclofenac. Tỷ lệ ngưng tham gia nghiên cứu do rung nhĩ cao hơn đối với
etoricoxib so với diclofenac.
Các
nghiên cứu EDGE và EDGE II đã so sánh khả năng dung nạp đường uống của etoricoxib
90 mg mỗi ngày (1,5-3 lần liều khuyến cáo trong thoái hóa khớp) và diclofenac 150
mg mỗi ngày trên 7.111 bệnh nhân bị thoái hóa khớp (nghiên cứu EDGE; thời gian
điều trị trung bình 9 tháng) và trên 4.086 bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp
(nghiên cứu EDGE II; thời gian điều trị trung bình 19 tháng). Tại mỗi nghiên
cứu này, đặc tính tác dụng bất lợi ở nhóm dùng etoricoxib nói chung tương tự
như các báo cáo tác dụng bất lợi trong những thử nghiệm lâm sàng giai đoạn IIb/III
đối chứng với placebo; tuy nhiên, tăng huyết áp và các tác dụng bất lợi liên
quan đến chứng phù xảy ra với tỷ lệ cao hơn ở nhóm dùng etoricoxib 90 mg so với
nhóm dùng diclofenac 150 mg mỗi ngày. Tỷ lệ các tác dụng bất lợi huyết khối tim
mạch nghiêm trọng đã xác định ở 2 nhóm điều trị đều như nhau.
Trong
1 phân tích tổng hợp các thử nghiệm từ giai đoạn IIb đến giai đoạn V với thời
gian nghiên cứu kéo dài ≥ 4 tuần (ngoại trừ những nghiên cứu của chương trình
MEDAL), tỷ lệ các tác dụng bất lợi huyết khối tim mạch nghiêm trọng đã xác định
ở nhóm dùng etoricoxib ≥ 30 mg không khác biệt có ý nghĩa so với nhóm dùng NSAID
không thuộc naproxen. Tỷ lệ các tác dụng bất lợi này ở nhóm etoricoxib thì cao
hơn so với nhóm dùng naproxen 500 mg, 2 lần mỗi ngày.
Trong
1 nghiên cứu lâm sàng về viêm đốt sống dạng thấp, bệnh nhân được điều trị với etoricoxib
90 mg ngày 1 lần cho đến 1 năm (N=126). Trong 1 nghiên cứu lâm sàng khác về viêm
đốt sống dạng thấp (N=857), bệnh nhân được điều trị với etoricoxib 60 mg hoặc
90 mg ngày 1 lần cho đến 26 tuần. Nói chung, dữ liệu tác dụng bất lợi trong các
nghiên cứu này tương tự như trong các nghiên cứu dài hạn về thoái hóa khớp,
viêm đa khớp dạng thấp và đau thắt lưng mạn tính.
Trong
1 thử nghiệm lâm sàng về viêm khớp thống phong cấp tính, bệnh nhân dùng trị
liệu etoricoxib 120 mg ngày 1 lần trong 8 ngày. Dữ liệu tác dụng bất lợi trong
nghiên cứu này, nói chung, tương tự như trong các nghiên cứu tổng hợp thoái hóa
khớp, viêm đa khớp dạng thấp và đau thắt lưng mạn tính.
Trong
những thử nghiệm lâm sàng ban đầu về đau cấp tính, bệnh nhân dùng trị liệu etoricoxib
120 mg ngày 1 lần trong 1- 7 ngày. Dữ liệu tác dụng bất lợi trong các nghiên
cứu này, nói chung, tương tự như trong các nghiên cứu tổng hợp thoái hóa khớp,
viêm đa khớp dạng thấp và đau thắt lưng mạn tính.
Trong
những thử nghiệm kết hợp về đau cấp sau phẫu thuật răng, tỉ lệ mắc viêm ổ răng
sau nhổ răng (chân răng khô) được báo cáo ở bệnh nhân điều trị bằng etoricoxib là
tương đương với những bệnh nhân điều trị bằng các hoạt chất so sánh.
Nguy
cơ huyết khối tim mạch (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc)
Kinh
nghiệm hậu mãi
Các
phản ứng bất lợi sau đây được báo cáo trong kinh nghiệm hậu mãi:
Rối
loạn máu và hệ bạch huyết: Giảm tiểu cầu.
Rối
loạn hệ miễn dịch: Các phản ứng quá mẫn, phản ứng phản
vệ/giả phản vệ bao gồm sốc.
Rối
loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng kali huyết.
Rối
loạn tâm thần: Lo lắng, mất ngủ, lẫn lộn, ảo giác, trầm
cảm, bồn chồn.
Rối
loạn hệ thần kinh: Rối loạn vị giác, ngủ gà.
Rối
loạn thị giác: Nhìn mờ.
Rối
loạn tim: Suy tim sung huyết, hồi hộp/đánh trống ngực, đau
thắt ngực, nhịp tim nhanh.
Rối
loạn mạch máu: Cơn tăng huyết áp kịch phát.
Rối
loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Co thắt phế quản.
Rối
loạn tiêu hóa: Đau bụng, loét miệng, loét đường tiêu
hóa bao gồm thủng và xuất huyết (chủ yếu ở bệnh nhân cao tuổi), nôn, tiêu chảy.
Rối
loạn gan mật: Viêm gan, chứng vàng da.
Rối
loạn da và mô dưới da: Phù mạch, ngứa, ban đỏ, phát ban, hội
chứng hoại tử biểu bì nhiễm độc, mề đay.
Rối
loạn thận và nước tiểu: Tổn thương thận, bao gồm cả suy
thận (xem Cảnh
báo và thận trọng khi dùng thuốc).
BÁO
NGAY CHO BÁC SĨ HOẶC DƯỢC SĨ NẾU GẶP BẤT KỲ TRIỆU CHỨNG NÀO KỂ TRÊN HOẶC CÁC
BẤT THƯỜNG KHÁC.
11. Quá liều và cách xử trí
Không có độc tính đáng kể xảy
ra khi dùng etoricoxib liều đơn đến 500 mg và liều nhiều lần đến 150 mg/ngày,
trong 21 ngày ở các thử nghiệm lâm sàng. Đã có những báo cáo về sử dụng quá
liều etoricoxib cấp tính, nhưng không có báo cáo về tác dụng bất lợi xảy ra ở
phần lớn các trường hợp quá liều. Các tác dụng bất lợi phổ biến nhất được ghi
nhận đều phù hợp với đặc tính an toàn của etoricoxib (như các tác dụng trên
đường tiêu hóa, trên mạch máu thận).
Trong trường hợp quá liều, điều
hợp lý là nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ thường dùng, như loại bỏ chất chưa
kịp hấp thu khỏi đường tiêu hóa, theo dõi trên lâm sàng và trị liệu nâng đỡ,
nếu cần.
Không thể loại bỏ etoricoxib
bằng thẩm phân máu; vẫn chưa biết rõ có thể dùng thẩm phân phúc mạc để loại bỏ
etoricoxib hay không.
12. Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc chống viêm không steroid
(NSAID)
Mã
ATC:
M01AH05
Etoricoxib là
thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) có hoạt tính kháng viêm, giảm đau, và
giảm sốt ở các mô hình động vật. Etoricoxib
là
chất ức chế cyclooxygenase-2 (COX-2) mạnh, rất chọn lọc, có hoạt tính khi uống
trong phạm vi và cao hơn phạm vi liều dùng trên lâm sàng. Đã xác định được 2
đồng dạng cyclooxygenase: cyclooxygenase-1 (COX-1) và cyclooxygenase-2 (COX-2).
COX-1 chịu trách nhiệm về các chức năng sinh lý bình thường qua trung gian
prostaglandin như bảo vệ niêm mạc dạ dày và sự kết tụ tiểu cầu. Sự ức chế COX-1
do dùng các NSAID không chọn lọc thường kèm theo tổn thương dạ dày và ức chế tiểu
cầu. Người ta đã chứng minh COX-2 có trách nhiệm chủ yếu trong tổng hợp các
chất trung gian của acid prostanoic gây đau, viêm và sốt. Sự ức chế chọn lọc
COX-2 do dùng etoricoxib đã làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng này
cùng với giảm độc tính ở đường tiêu hóa mà không có tác dụng lên chức năng tiểu
cầu.
Trong
tất cả các nghiên cứu dược lâm sàng, etoricoxib có tác dụng ức chế COX-2 phụ thuộc vào
liều sử dụng mà không ức chế COX-1 khi dùng liều đến 150 mg mỗi ngày.
Ảnh
hưởng lên hoạt tính bảo vệ niêm mạc dạ dày của COX-1 cũng được đánh giá trong 1
nghiên cứu lâm sàng với các mẫu sinh thiết dạ dày được thu thập từ đối tượng dùng
etoricoxib 120
mg mỗi ngày, hoặc naproxen 500 mg ngày 2 lần, hoặc placebo để đánh giá sự tổng
hợp prostaglandin. So với placebo, etoricoxib không ức chế sự tổng hợp prostaglandin ở
dạ dày. Ngược lại, naproxen đã ức chế sự tổng hợp prostaglandin ở dạ dày đến
gần 80% khi so với placebo. Các dữ liệu này càng chứng minh thêm tính chọn lọc
COX-2 của etoricoxib.
Chức
năng tiểu cầu
Thời
gian chảy máu không bị ảnh hưởng khi dùng etoricoxib nhiều liều đến 150 mg mỗi
ngày trong 9 ngày so với placebo. Tương tự, thời gian chảy máu không bị thay
đổi trong 1 nghiên cứu liều đơn với etoricoxib 250 hoặc 500 mg. Ở tế bào thực nghiệm sống
ngoài cơ thể (ex vivo), không có sự ức chế acid arachidonic hoặc sự kết
tụ tiểu cầu do cảm ứng collagen ở trạng thái bền vững với liều etoricoxib đến 150 mg. Các phát
hiện này phù hợp với tính chọn lọc của etoricoxib đối với COX-2.
13. Đặc tính dược động học
Hấp thu
Etoricoxib được hấp thu tốt qua đường uống. Trung bình sinh khả
dụng đường uống gần 100%. Sau khi dùng liều 120 mg ngày 1 lần cho đến khi đạt
trạng thái bền vững, nồng độ đỉnh trong huyết tương (trung bình nhân Cmax=3,6
mcg/mL) được ghi nhận đạt được gần 1 giờ (Tmax) sau khi đối tượng
người lớn uống thuốc lúc bụng đói. Trung bình nhân AUC0-24 giờ là 37,8
mcg*giờ/ml. Dược động học của etoricoxib tuyến tính với phạm vi liều dùng trên
lâm sàng.
Bữa ăn bình thường không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng lên mức
độ hoặc tốc độ hấp thu 1 liều etoricoxib 120 mg. Trong các thử nghiệm lâm sàng,
etoricoxib được dùng không liên quan đến thức ăn.
Dược động học của etoricoxib ở 12 đối tượng khỏe mạnh đều như nhau
(tương đương AUC, Cmax trong khoảng chênh lệch 20%) khi dùng thuốc
đơn độc, khi dùng chung với thuốc kháng acid chứa magnesi/nhôm hydroxid, hoặc
thuốc kháng acid chứa calci carbonat (khả năng trung hòa acid xấp xỉ 50 mEq).
Phân phối
Khoảng 92% liều etoricoxib gắn với protein trong huyết tương người
khi dùng trong phạm vi nồng độ 0,05 - 5 mcg/mL. Thể tích phân phối ở trạng thái
bền vững (Vdss) khoảng chừng 120 lít ở người.
Etoricoxib đi qua nhau thai ở chuột cống và thỏ, và đi qua hàng
rào máu-não ở chuột cống.
Chuyển hóa
Etoricoxib được chuyển hóa mạnh mẽ với <1% liều được tìm thấy
trong nước tiểu ở dạng ban đầu. Con đường chuyển hóa chính để tạo dẫn xuất
6’-hydroxymethyl được thực hiện với sự xúc tác của các enzym cytochrom P450
(CYP).
Đã có 5 chất chuyển hóa được nhận diện ở người. Chất chuyển hóa
chủ yếu là dẫn xuất 6’- carboxylic acid của etoricoxib được hình thành từ sự
oxy hóa dẫn xuất 6’-hydroxymethyl.
Các chất chuyển hóa chủ yếu này biểu hiện hoặc không có hoạt tính
có thể đo lường được hoặc chỉ có hoạt tính yếu như các thuốc ức chế COX-2. Các
chất chuyển hóa này đều không ức chế COX-1.
Thải trừ
Sau khi tiêm tĩnh mạch 1 liều đơn 25 mg etoricoxib có gắn phóng xạ
cho các đối tượng khỏe mạnh, 70% hoạt chất phóng xạ được tìm thấy trong nước
tiểu và 20% trong phân, phần lớn ở dạng các chất chuyển hóa. Dưới 2% hoạt chất
phóng xạ được tìm thấy ở dạng thuốc không chuyển hóa.
Phần lớn etoricoxib được thải trừ chủ yếu qua quá trình chuyển
hóa, sau đó qua sự bài tiết ở thận. Nồng độ của etoricoxib ở trạng thái bền
vững đạt được trong vòng 7 ngày điều trị khi dùng liều 120 mg ngày 1 lần, với
tỷ số tích lũy gần bằng 2, tương ứng với thời gian bán thải tích lũy khoảng 22
giờ. Theo ước tính, sự thanh thải thuốc tại huyết tương xấp xỉ 50 mL/phút.
Những đặc tính ở bệnh nhân
(Các dân số đặc biệt)
Giới tính: Dược
động học của etoricoxib ở nam và nữ đều như nhau.
Người cao tuổi: Dược
động học ở người cao tuổi (≥ 65 tuổi) cũng tương tự như ở người trẻ tuổi. Không
cần chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Chủng
tộc:
Chủng tộc không tạo hiệu ứng quan trọng trên lâm sàng lên dược động học của
etoricoxib.
Suy gan: ở
bệnh nhân suy gan nhẹ (điểm số Child-Pugh 5-6), etoricoxib liều 60 mg ngày 1
lần có AUC trung bình cao hơn gần 16% so với đối tượng khỏe mạnh dùng cùng chế
độ liều. Bệnh nhân suy gan trung bình (điểm số Child-Pugh 7-9) dùng etoricoxib
liều 60 mg 2 ngày 1 lần đã có AUC trung bình tương tự như ở đối tượng khỏe mạnh
dùng etoricoxib 60 mg ngày 1 lần; liều etoricoxib 30 mg ngày 1 lần chưa được
nghiên cứu trong dân số này. Không có tài liệu lâm sàng hoặc dược động học khi
dùng thuốc ở bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child-Pugh >9).
Suy thận: Dược
động học của etoricoxib liều đơn 120 mg ở bệnh nhân suy thận trung bình - nặng
và bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối đang điều trị bằng thẩm phân máu thì
không khác biệt đáng kể so với dược động học ở đối tượng khỏe mạnh. Thẩm phân
máu không góp phần đáng kể vào việc thải trừ thuốc (sự thanh thải thuốc qua
thẩm phân khoảng 50 mL/phút).
Bệnh nhân trẻ em: Dược
động học của etoricoxib ở bệnh nhi (<12 tuổi) chưa được nghiên cứu.
Trong
1 nghiên cứu dược động học (N=16) tiến hành trên thanh thiếu niên (12-17 tuổi),
dược động học ở thanh thiếu niên nặng 40-60 kg dùng etoricoxib 60 mg ngày 1 lần
và ở thanh thiếu niên nặng >60 kg dùng etoricoxib 90 mg ngày 1 lần thì đều
giống như dược động học ở người lớn dùng etoricoxib 90 mg ngày 1 lần. vẫn chưa
xác lập tính an toàn và hiệu quả của etoricoxib ở bệnh nhân trẻ em.
Tương
tác thuốc với các dữ liệu dược động học bổ sung
Etoricoxib
được biến đổi sinh học chủ yếu qua quá trình oxy hóa phụ thuộc vào hệ thống men
Cytochrom để tạo thành 6’-hydroxymethyl etoricoxib, mà chất này có thể được
chuyển hóa tiếp thành acid carboxylic tương ứng hoặc O-glucuronid. Dữ
liệu in vitro cho thấy CYP3A4 đóng vai trò chủ yếu (khoảng 60%) trong
phản ứng hydroxyl hóa etoricoxib và CYP2C9, 1A2, 2C19, và 2D6 đảm nhiệm phần
hydroxyl hóa còn lại (khoảng 40%). Sử dụng thuốc ức chế mạnh CYP3A4
(ketoconazol) không làm tăng nồng độ etoricoxib trong huyết tương đến mức độ có
ý nghĩa trên lâm sàng (tăng AUC xấp xỉ 43%). Sử dụng thuốc gây cảm ứng mạnh các
enzym CYP (rifampin) làm giảm 65% AUC của etoricoxib trong huyết tương.
Khả
năng etoricoxib ức chế hoặc cảm ứng hoạt tính của CYP3A4 đã được nghiên cứu
trong những thử nghiệm ở người qua xét nghiệm hơi thở sau khi tiêm tĩnh mạch
erythromycin. So với placebo, etoricoxib (120 mg dùng mỗi ngày, trong 11 ngày)
không có bất kỳ tác động đáng kể lên phản ứng khử nhóm N-methyl hóa của
erythromycin, điều này chứng tỏ thuốc không có tác động lên hoạt tính của CYP3A4
tại gan. Dựa trên các nghiên cứu in vitro, etoricoxib không có tác dụng
ức chế các cytochrom P450 1A2, 2C9, 2C19, 2D6, hoặc 2E1.
14. Quy cách đóng gói:
Hộp
3 vỉ x 10 viên.
15. Điều kiện bảo quản: Nơi khô thoáng, tránh
ánh sáng, nhiệt độ dưới 300C.
16. Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày
sản xuất.
17. Tiêu chuẩn chất lượng của thuốc: Tiêu chuẩn cơ sở.
18. Tên, địa chỉ của cơ sở sản xuất thuốc:
CÔNG TY CỔ PHẦN US PHARMA USA
Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, xã Tân
An Hội, Huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên
hệ số điện thoại 028-37908860