logo
Lot B1-10, D2 Street, Tay Bac Cu Chi Industrial Zone, HCMC
/images/companies/uspharma/san pham/than kinh va tim mach/PREGABALIN 75.jpg
NEW

PREGABALIN 75

Đặc điểm nổi bật
Đau thần kinh: Pregabalin được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn. Động kinh: Pregabalin được chỉ định điều trị hỗ trợ các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có toàn thể thứ phát ở người lớn. Rối loạn lo âu lan tỏa: Pregabalin được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn.
Liên hệ
Số lượng:    Liên hệ

Hỗ trợ trực tuyến 
Điện thoại: (028) 37908860
GỌI NGAY Liên hệ
THÀNH PHẦN: Mỗi viên nang cứng chứa:
- Thành phần dược chất: Pregabalin..........75 mg.
- Tá dược: Lactose monohydrat, Tinh bột ngô, Aerosil (colloidal silicon dioxyd), Polyvinyl pyrrolidon (PVP) K30, Magnesi stearat, Natri starch glycolat.
DẠNG BÀO CHẾ: Viên nang cứng.
CHỈ ĐỊNH:
Đau thần kinh: Pregabalin được chỉ định để điều trị đau thần kinh trung ương và ngoại biên ở người lớn.
Động kinh: Pregabalin được chỉ định điều trị hỗ trợ các cơn động kinh cục bộ có hoặc không có toàn thể thứ phát ở người lớn.
Rối loạn lo âu lan tỏa: Pregabalin được chỉ định để điều trị rối loạn lo âu lan tỏa (GAD) ở người lớn.
- Đau cơ do xơ hóa.
LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG:
Khoảng liều từ 150 – 600 mg/ngày, được chia thành 2 hoặc 3 lần.
Đau thần kinh: Pregabalin có thể được bắt đầu với liều 150 mg/ngày, được chia thành 2 hoặc 3 lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, có thể tăng liều lên đến 300 mg/ngày sau 3-7 ngày, và nếu cần, tăng đến liều tối đa 600 mg/ngày sau 7 ngày.
Động kinh: Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg/ngày, được chia thành 2 hoặc 3 lần. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg/ngày sau 1 tuần. Liều tối đa 600 mg/ngày có thể đạt được sau một tuần nữa.
Rối loạn lo âu lan tỏa: Liều dùng từ 150 – 600 mg/ngày được chia thành 2 hoặc 3 lần. Sự cần thiết của việc điều trị nên được đánh giá lại thường xuyên.
Pregabalin có thể được khởi đầu với liều 150 mg/ngày. Dựa trên đáp ứng và khả năng dung nạp của từng bệnh nhân, liều dùng có thể tăng lên đến 300 mg/ngày sau 1 tuần.Tuần sau đó, có thể tăng liều lên đến 450 mg/ngày. Liều tối đa 600 mg/ngày có thể đạt được sau một tuần nữa. 
Đau cơ do xơ hóa: Liều thông thường với hầu hết bệnh nhân là từ 300 – 450 mg/ngày, được chia làm 2 lần. Nên khởi đầu với liều 75 mg x 2 lần/ngày (tức 150 mg/ngày) và có thể tăng lên đến 150 mg/ngày, 2 lần/ngày (tức 300 mg/ngày) trong vòng 1 tuần tùy theo hiệu quả và khả năng dung nạp. Bệnh nhân không có đáp ứng đầy đủ với liều 300 mg/ngày có thể tăng lên liều 225 mg x 2 lần/ngày (tức 450 mg/ngày). Nếu cần thiết, tùy theo đáp ứng và khả năng dung nạp của bệnh nhân, có thể tăng lên mức tối đa là 600 mg/ngày sau 1 tuần điều trị thêm.
Ngưng pregabalin: Theo thực hành lâm sàng hiện nay, nếu ngưng pregabalin, người ta khuyến cáo nên được thực hiện dần dần, tối thiểu là 1 tuần, không phụ thuộc vào chỉ định.
Đối tượng đặc biệt:
Bệnh nhân suy thận
Cần chỉnh liều theo Clcr, cụ thể như sau:
Clcr 30 – dưới 60 ml/phút: Bắt đầu 75 mg/ngày, tối đa 300 mg/ngày; chia 2 – 3 lần.
Clcr 15 – dưới 30 ml/phút: Bắt đầu 25 - 50 mg/ngày, tối đa 150 mg/ngày; chia 2 hoặc dùng 1 lần duy nhất.
Clcr < 15 ml/phút: Bắt đầu 25 mg/ngày, tối đa 75 mg/ngày; dùng 1 lần duy nhất.
Bệnh nhân thẩm phân máu cần được nhận thêm một liều bổ sung từ 25 – 100 mg pregabalin ngay sau mỗi buổi thẩm phân kéo dài 4 giờ.
Bệnh nhân suy gan: Không cần phải điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan.
Trẻ em: Độ an toàn và hiệu quả của PREGABALIN 75 ở trẻ em dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên từ 12-17 tuổi chưa được thiết lập. Do đó không nên sử dụng thuốc cho đối tượng này.
Người già (trên 65 tuổi): Có thể cần giảm liều dùng ở người già do giảm chức năng thận (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Cách dùng:
PREGABALIN 75 chỉ được dùng bằng đường uống. Có thể dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
Mẫn cảm với thuốc và/hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc. 
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG:
Bệnh nhân đái tháo đường
Một số bệnh nhân đái tháo đường tăng cân cần phải điều chỉnh các thuốc hạ đường huyết khi điều trị với pregabalin.
Phản ứng quá mẫn
Đã có các báo cáo về các phản ứng quá mẫn khi thuốc lưu hành trên thị trường, bao gồm phù mạch. Nên ngừng pregabalin ngay lập tức nếu xảy ra các triệu chứng phù mạch, như mặt, quanh miệng, hoặc sưng đường hô hấp trên.
Chóng mặt, buồn ngủ, mất ý thức, nhầm lẫn, và suy giảm tinh thần
Điều trị với pregabalin có thể gây chóng mặt và buồn ngủ, điều này có thể làm tăng nguy cơ xảy ra chấn thương do tai nạn (ngã) ở người già. Cũng đã có các báo cáo về mất ý thức, lú lẫn và suy giảm tinh thần. Do đó, bệnh nhân nên thận trọng cho đến khi họ đã quen thuộc với những ảnh hưởng tiềm ẩn của thuốc.
Các ảnh hưởng liên quan đến thị giác
Trong các thử nghiệm được kiểm soát, một tỷ lệ cao hơn bệnh nhân điều trị với pregabalin được báo cáo giảm thị giác so với các bệnh nhân được điều trị với giả dược, các triệu chứng này phần lớn tự khỏi với liều duy trì. Trong các nghiên cứu lâm sàng có tiến hành thử nghiệm nhãn khoa, tỷ lệ giảm thị lực và thay đổi thị trường ở bệnh nhân điều trị với pregabalin lớn hơn so với giả dược, tỷ lệ thay đổi võng mạc là lớn hơn ở bệnh nhân được điều trị với giả dược.
Theo kinh nghiệm sau khi thuốc ra thị trường đã có các báo cáo về các phản ứng không mong muốn ở mắt, bao gồm mất thị giác, mờ hoặc thay đổi thị lực, đa số các phản ứng này là thoáng qua. Ngừng pregabalin có thể làm hồi phục hoặc cải thiện các triệu chứng về thị giác.
Suy thận
Các trường hợp suy thận đã được báo cáo và trong một số trường hợp ngừng pregabalin đã cho thấy phục hồi phản ứng không mong muốn này. 
Cai các thuốc chống động kinh sử dụng đồng thời
Không đủ dữ liệu cho thấy việc cai các thuốc chống động kinh sử dụng đồng thời, khi đã kiểm soát được cơn động kinh với pregabalin trong liệu pháp bổ sung, và để chuyển sang dùng liệu pháp đơn trị liệu với pregabalin.
Triệu chứng cai thuốc
Các triệu chứng cai thuốc sau khi ngừng điều trị ngắn hạn và dài hạn với pregabalin đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân. Các tác dụng không mong muốn sau đây đã được đề cập: Mất ngủ, nhức đầu, buồn nôn, lo lắng, tiêu chảy, hội chứng cúm, căng thẳng, trầm cảm, đau, co giật, tăng tiết mồ hôi và chóng mặt. Nên thông báo cho bệnh nhân biết về những tác dụng không mong muốn này trước khi bắt đầu điều trị. Co giật, bao gồm trạng thái động kinh, động kinh cơn lớn, có thể xảy ra trong quá trình sử dụng pregabalin hoặc ngay sau khi ngưng pregabalin.
Liên quan đến việc ngừng điều trị dài hạn của pregabalin không có dữ liệu về tỷ lệ mắc và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng cai thuốc có liên quan đến liều dùng của pregabalin.
Suy tim sung huyết
Đã có các báo cáo về suy tim sung huyết ở một số bệnh nhân điều trị với pregabalin. Những phản ứng này chủ yếu gặp ở bệnh nhân lớn tuổi có tổn thương tim mạch trong quá trình điều trị pregabalin cho chỉ định đau thần kinh. Pregabalin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này. Có thể hồi phục phản ứng này khi ngưng pregabalin.
Điều trị đau thần kinh trung ương do tổn thương tủy sống
Trong điều trị đau thần kinh trung ương do tổn thương tủy sống, tỷ lệ gặp các phản ứng không mong muốn nói chung, các phản ứng không mong muốn trên hệ thần kinh trung ương và đặc biệt là buồn ngủ sẽ tăng lên. Điều này có thể là do tác dụng không mong muốn của việc sử dụng đồng thời các thuốc (ví dụ như thuốc chống co thắt). Nên cân nhắc khi chỉ định pregabalin trong bệnh lý này.
Ý nghĩ và hành vi tự sát
Ý nghĩ và hành vi tự sát đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với các thuốc chống động kinh ở một số chỉ định. Một phân tích meta của các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng với giả dược của các thuốc chống động kinh cũng cho thấy có sự tăng nhẹ nguy cơ xảy ra ý nghĩ và hành vi tự sát.
Nên theo dõi chặt chẽ các bệnh nhân này về các dấu hiệu của ý nghĩ và hành vi tự sát và nên có biện pháp điều trị phù hợp. Nên khuyên bệnh nhân (và người nhà bệnh nhân) tới gặp bác sĩ nếu có các dấu hiệu của ý nghĩ và hành động tự sát.
Giảm chức năng đường tiêu hóa dưới
Có các báo cáo về các tác dụng không mong muốn liên quan đến giảm chức năng đường tiêu hóa dưới (ví dụ, tắc ruột, liệt ruột, táo bón) khi sử dụng phối hợp pregabalin với các thuốc có khả năng gây táo bón, như thuốc giảm đau opioid. Khi sử dụng kết hợp pregabalin và opioid nên xem xét các biện pháp phòng ngừa táo bón (đặc biệt là ở bệnh nhân nữ và người già).
Dùng sai, khả năng lạm dụng hoặc lệ thuộc thuốc
Các trường hợp dùng sai, khả năng lạm dụng hoặc lệ thuộc thuốc đã được báo cáo. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử lạm dụng thuốc và bệnh nhân cần được theo dõi các triệu chứng khi dùng sai, lạm dụng hoặc lệ thuộc pregabalin (tăng dung nạp thuốc, tăng liều, hành vi tìm kiếm thuốc đã được báo cáo).
Bệnh não
Các trường hợp bệnh não đã được báo cáo, chủ yếu là ở những bệnh nhân mắc sẵn các bệnh lý có thể thúc đẩy bệnh não.
Tá dược:
Thuốc có chứa tá dược lactose. Bệnh nhân có các rối loạn di truyền hiếm gặp về việc dung nạp galactose, chứng thiếu hụt lactose Lapp hoặc rối loạn hấp thu glucose – galactose không nên sử dụng thuốc này.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ:
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai
Không có đủ dữ liệu về việc sử dụng pregabalin ở phụ nữ mang thai.
Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính sinh sản. Nguy cơ tiềm ẩn ở người là không rõ.
Pregabalin không nên sử dụng trong quá trình mang thai, trừ khi thực sự cần thiết (nếu lợi ích cho người mẹ nhiều hơn so với các nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi).
Sử dụng thuốc cho phụ nữ cho con bú
Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ. Ảnh hưởng của thuốc đối với trẻ mới sinh/trẻ sơ sinh chưa được biết rõ. Việc đưa ra quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng liệu pháp điều trị pregabalin dựa trên việc đánh giá giữa lợi ích của việc cho bú sữa mẹ đối với trẻ và lợi ích của liệu pháp điều trị đối với mẹ. 
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÊN KHẢ NĂNG LÁI XE, VẬN HÀNH MÁY MÓC:
Pregabalin có thể có ảnh hưởng nhỏ hoặc trung bình trên khả năng điều khiển tàu xe và vận hành máy móc. Pregabalin có thể gây chóng mặt và buồn ngủ và do đó có thể ảnh hưởng đến khả năng điều khiển tàu xe và vận hành máy móc. Bệnh nhân được khuyên không nên lái xe, vận hành máy móc phức tạp hoặc tham gia các hoạt động nguy hiểm khác cho đến khi biết được thuốc này có ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các hoạt động này của họ hay không.
TƯƠNG TÁC, TƯƠNG KỴ CỦA THUỐC: 
Tương tác của thuốc
Do pregabalin chủ yếu được đào thải qua nước tiểu dưới dạng không đổi, được chuyển hóa không đáng kể ở người (< 2% liều được thu hồi trong nước tiểu dưới dạng chất chuyển hóa), không ức chế quá trình chuyển hóa thuốc ở in vitro, và không liên kết với protein huyết tương, nên nó ít có khả năng gây ra, hoặc chịu các tương tác dược động học.
Trong các nghiên cứu in vivo và phân tích dược động học dân số
Theo đó, trong nghiên cứu in vivo không có tương tác dược động học liên quan về lâm sàng được ghi nhận giữa pregabalin và phenytoin, carbamazepin, acid valproic, lamotrigin, gabapentin, lorazepam, oxycodon hay ethanol. Phân tích dược động học dân số cho thấy thuốc điều trị đái tháo đường đường uống, thuốc lợi tiểu, insulin, phenobarbital, tiagabin và topiramat không có ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng tới độ thanh thải pregabalin.
Thuốc tránh thai đường uống, norethisteron và/hoặc ethinyl estradiol
Dùng đồng thời pregabalin với các thuốc tránh thai đường uống norethisteron và/hoặc ethinyl estradiol không ảnh hưởng đến dược động học ở trạng thái ổn định của cả hai thuốc này.
Các thuốc ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương
Pregabalin có thể làm tăng tác dụng của ethanol và lorazepam. Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, dùng pregabalin đa liều đồng thời với oxycodon, lorazepam, hoặc ethanol không gây ra các ảnh hưởng quan trọng về lâm sàng trên hô hấp. Sau khi thuốc được đưa ra thị trường đã có các báo cáo về suy hô hấp và hôn mê ở bệnh nhân dùng pregabalin và các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác. Pregabalin có thể làm tăng sự suy giảm chức năng nhận thức và chức năng vận động thô gây ra bởi oxycodon.
Tương tác và người cao tuổi
Không có các nghiên cứu tương tác dược động học chuyên biệt được thực hiện ở những người tình nguyện cao tuổi. Các nghiên cứu tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.
Tương kỵ của thuốc
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN CỦA THUỐC (ADR):
Giống như tất cả các thuốc, thuốc này có thể gây ra các tác dụng không mong muốn, mặc dù không phải tất cả mọi người đều gặp. 
Nếu bạn bị sưng mặt hoặc lưỡi hoặc da của bạn bị đỏ hoặc bắt đầu phồng rộp hoặc tróc vảy thì bạn phải tới gặp bác sĩ ngay lập tức. 
Tác dụng không mong muốn rất thường gặp, ADR ≥ 1/10
Thần kinh: Chóng mặt, mất ngủ, nhức đầu.
Tác dụng không mong muốn thường gặp, 1/10 > ADR > 1/100
Nhiễm trùng và nhiễm ký sinh trùng: Viêm mũi -  họng.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Thèm ăn.
Tâm thần: Tâm trạng phấn chấn, lú lẫn, dễ cáu, mất phương hướng, mất ngủ, giảm ham muốn tình dục.
Thần kinh: Mất điều hòa, phối hợp bất thường, run, chứng loạn vận ngôn, giảm trí nhớ, mất tập trung, dị cảm, an thần, rối loạn cân bằng, thờ ơ.
Mắt: Giảm thị lực.
Tai: Hoa mắt.
Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, táo bón, tiêu chảy, đầy hơi, chướng bụng, khô miệng.
Cơ xương khớp: Chuột rút, đau khớp, đau lưng, đau tay chân, co thắt cổ tử cung.
Hệ sinh sản: Rối loạn chức năng cương dương.
Toàn thân: Phù ngoại biên, phù nề, dáng đi bất thường, ngã, cảm giác say rượu, mệt mỏi.
Xét nghiệm: Tăng cân.
Tác dụng không mong muốn ít gặp, 1/100 > ADR > 1/1000
Máu và hệ bạch huyết: Giảm bạch cầu trung tính.
Hệ miễn dịch: Quá mẫn cảm.
Chuyển hóa và dinh dưỡng: Chán ăn, hạ đường máu.
Tâm thần: Ảo giác, hoảng loạn, bồn chồn, kích động, tâm trạng chán nản, tâm trạng phấn chấn, gây hấn, thay đổi tâm trạng, mất nhân cách, khó nhớ từ, giấc mơ bất thường, tăng ham muốn tình dục, lãnh đạm.
Thần kinh: Ngất, sững sờ, giật rung cơ, mất ý thức, tâm thần hiếu động thái quá, rối loạn vận động, chóng mặt tư thế, rung động, rung giật nhãn cầu, rối loạn nhận thức, giảm phản xạ, giảm cảm giác, rối loạn ngôn ngữ, tăng cảm giác, cảm giác nóng rát, mất vị giác, khó chịu.
Mắt: Mất thị lực ngoại biên, rối loạn thị giác, sưng mắt, hỏng thị trường, giảm thị lực, đau mắt, mỏi mắt, hoa mắt, khô mắt, tăng chảy nước mắt, kích ứng mắt.
Tai: Tăng thính lực.
Tim: Nhịp tim nhanh, block nhĩ thất độ 1, nhịp xoang chậm, suy tim sung huyết.
Mạch: Hạ huyết áp, tăng huyết áp, nóng bừng, đỏ bừng, lạnh ngoại vi.
Hô hấp: Khó thở, chảy máu cam, ho, nghẹt mũi, viêm mũi, ngáy, khô mũi.
Tiêu hóa: Trào ngược dạ dày thực quản, tăng tiết nước bọt, giảm cảm giác ở miệng.
Gan mật: Tăng các enzym gan [tăng alanine aminotransferase (ALT), tăng aspartate aminotransferase (AST)].
Da và mô dưới da: Phát ban dát sần, nổi mề đay, tăng tiết mồ hôi, ngứa.
Cơ xương khớp: Sưng khớp, đau cơ, co giật cơ, đau cổ, cứng cơ.
Thận: Tiểu không tự chủ, khó tiểu.
Hệ sinh sản: Rối loạn chức năng tình dục, xuất tinh chậm, đau bụng kinh, đau ngực.
Toàn thân: Phù toàn thân, phù mặt, tức ngực, đau, sốt, khát, ớn lạnh, suy nhược.
Xét nghiệm: Tăng creatine phosphokinase máu, tăng alanine aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase, giảm số lượng tiểu cầu, tăng creatine máu, giảm kali máu, giảm cân.
Tác dụng không mong muốn hiếm gặp, 1/1000 > ADR > 1/10000
Miễn dịch: Phù mạch, phản ứng dị ứng.
Tâm thần: Mất phản xạ có điều kiện.
Thần kinh: Co giật, rối loạn khứu giác, giảm chức năng vận động, khó viết.
Tim: Kéo dài khoảng QT, nhịp xoang nhanh.
Hô hấp: Phù phổi, tức ngực.
Tiêu hóa: Cổ trướng, viêm tụy, sưng lưỡi, khó nuốt.
Gan mật: Vàng da.
Da và mô dưới da: Hội chứng Stevens Johnson, mồ hôi lạnh.
Cơ xương khớp: Tiêu cơ vân.
Thận: Suy thận, thiểu niệu, bí tiểu.
Hệ sinh sản: Mất kinh, tiết dịch ở vú, vú to bất thường, vú to ở nam.
Tác dụng không mong muốn rất hiếm gặp, 1/10000 > ADR
Gan mật: Suy gan, viêm gan.
QUÁ LIỀU VÀ CÁCH XỬ TRÍ:
Kinh nghiệm sau khi đưa thuốc ra thị trường, các phản ứng không mong muốn thường gặp nhất được ghi nhận khi sử dụng quá liều pregabalin bao gồm buồn ngủ, trạng thái lú lẫn, kích động, và bồn chồn.
Co giật cũng đã được báo cáo.
Một số trường hợp hiếm gặp, các trường hợp hôn mê cũng được báo cáo.
Điều trị quá liều pregabalin bao gồm các biện pháp hỗ trợ chung và có thể chạy thận nhân tạo nếu cần thiết.
ĐẶC TÍNH DƯỢC LỰC HỌC:
Nhóm dược lý: Thuốc chống động kinh, mã ATC: N03AX16.
Cơ chế tác dụng: Pregabalin liên kết với tiểu đơn vị phụ (α2-δ protein) của kênh calci phụ thuộc điện thể trong hệ thần kinh trung ương.
Hiệu quả và độ an toàn lâm sàng
Đau dây thần kinh: Hiệu quả đã được thể hiện trong các thử nghiệm trong bệnh lý thần kinh do đái tháo đường, đau thần kinh sau Herpes và chấn thương tủy sống. Hiệu quả chưa được nghiên cứu trong các mô hình đau thần kinh khác.
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 10 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát lên đến 13 tuần với liều dùng là 2 lần ngày (BID) và lên tới 8 tuần với liều dùng 3 lần/ngày (TID). Nhìn chung, độ an toàn và hiệu quả của chế độ liều BID và TID là tương tự nhau.
Trong các thử nghiệm lâm sàng lên đến 12 tuần đối với đau thần kinh ngoại biên và đau thần kinh trung ương, tác dụng giảm đau được thấy trong tuần 1 và được duy trì trong suốt thời gian điều trị.
Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát về bệnh đau thần kinh ngoại biên, 35% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược có cải thiện 50% ngưỡng đau. Đối với những bệnh nhân không gặp chứng buồn ngủ, sự cải thiện này được quan sát thấy ở 33% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 18% bệnh nhân dùng giả dược. Đối với những bệnh nhân gặp chứng buồn ngủ, tỷ lệ đáp ứng là 48% trên nhóm dùng pregabalin và 16% trên nhóm dùng giả dược.
Trong thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát về bệnh đau thần kinh trung ương, 22% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 7% bệnh nhân dùng giả dược có cải thiện 50% ngưỡng đau.
Động kinh: Điều trị hỗ trợ.
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 3 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trong 12 tuần với liều dùng BID hoặc TID. Nhìn chung, độ an toàn và hiệu quả của cả hai chế độ liều BID và TID là tương tự nhau.
Tác dụng giảm cơn động kinh được quan sát thấy trong tuần 1.
Trẻ em: Hiệu quả và độ an toàn của pregabalin để điều trị bổ trợ cho bệnh động kinh ở bệnh nhân nhi dưới 12 tuổi và thanh thiếu niên chưa được thiết lập. Các tác dụng không mong muốn được quan sát trong một nghiên cứu về dược động học và khả năng dung nạp ở những bệnh nhi từ 3 tháng tuổi đến 16 tuổi (n = 65) mắc bệnh động kinh cục bộ tương tự như ở người trưởng thành. Kết quả của một nghiên cứu có đối chứng giả dược kéo dài 12 tuần trên 295 bệnh nhi từ 4 đến 16 tuổi được thực hiện để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của pregabalin khi điều trị hỗ trợ cho bệnh động kinh khởi phát cục bộ và một nghiên cứu an toàn nhãn mở 1 năm ở 54 bệnh nhi từ 3 tháng tuổi đến 16 tuổi bị động kinh cho thấy rằng các tác dụng không mong muốn của sốt và nhiễm trùng đường hô hấp trên được thấy nhiều hơn so với các nghiên cứu ở người lớn mắc bệnh động kinh.
Trong nghiên cứu có đối chứng với giả dược kéo dài 12 tuần, bệnh nhi được chỉ định dùng pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (tối đa, 150 mg/ngày), pregabalin 10 mg/kg/ngày (tối đa, 600 mg/ngày) hoặc giả dược. Tỷ lệ các đối tượng giảm ít nhất 50% các cơn động kinh khởi phát cục bộ so với đường cơ sở là 40,6% đối tượng được điều trị với pregabalin 10 mg/kg/ngày (p = 0,0068 so với giả dược), 29,1% đối tượng được điều trị với pregabalin 2,5 mg/kg/ngày (p = 0.2600 so với giả dược) và 22,6% bệnh nhân dùng giả dược.
Đơn trị liệu (những bệnh nhân mới được chẩn đoán).
Pregabalin đã được nghiên cứu trong 1 thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát kéo dài 56 tuần với liều dùng BID. Pregabalin đạt kết quả không thua kém lamotrigin dựa trên điểm cuối tự do 6 tháng động kinh. Pregabalin và lamotrigin có độ an toàn giống nhau và đều được dung nạp tốt.
Rối loạn lo âu lan tỏa (GAD): Pregabalin đã được nghiên cứu trong 6 thử nghiệm có kiểm soát kéo dài 4 - 6 tuần, một nghiên cứu trên người già kéo dài 8 tuần và một nghiên cứu ngăn ngừa tái phát dài hạn với giai đoạn ngăn ngừa tái phát mù đôi kéo dài 6 tháng.
Giảm các triệu chứng GAD được phản ánh bởi thang đánh giá lo âu Hamilton (HAM-A) đã được quan sát vào tuần 1.
Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát (kéo dài 4-8 tuần) 52% bệnh nhân được điều trị với pregabalin và 38% bệnh nhân dùng giả dược đã cải thiện ít nhất 50% tổng điểm HAM-A từ đường cơ sở đến điểm cuối.
Trong các thử nghiệm có kiểm soát, tỷ lệ bệnh nhân điều trị với pregabalin bị mờ mắt được báo cáo nhiều hơn so với bệnh nhân điều trị với giả dược và phần lớn các trường hợp đều hồi phục khi tiếp tục dùng thuốc. Việc kiểm tra nhãn khoa (bao gồm kiểm tra thị lực, kiểm tra thị trường và kiểm tra đáy mắt) được thực hiện trên 3600 bệnh nhân trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát. Ở những bệnh nhân này, thị lực bị giảm ở 6,5% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 4,8% bệnh nhân điều trị với giả dược. Thay đổi thị trường được phát hiện ở 12,4% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 11,7% bệnh nhân điều trị với giả dược. Những thay đổi về đáy mắt được quan sát thấy ở 1,7% bệnh nhân điều trị với pregabalin và 2,1% bệnh nhân điều trị với giả dược.
Đau cơ do xơ hóa: Hiệu quả của pregabalin trong điều trị đau cơ do xơ hóa được thiết lập trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược, đa trung tâm kéo dài 14 tuần (F1) và một nghiên cứu ngừng thuốc ngẫu nhiên, kéo dài 6 tháng (F2). Các nghiên cứu F1 và F2 thực hiện trên những bệnh nhân được chẩn đoán đau cơ do xơ hóa sử dụng tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp Học Hoa Kỳ (ACR) (tiền sử đau lan tỏa trong 3 tháng và có biểu hiện đau ở từ 11 vị trí trở lên trong số 18 vị trí điểm đau đặc trưng). Các nghiên cứu xác định sự giảm đau bằng thang điểm đánh giá bằng mắt thường. Ngoài ra, sự cải thiện đã được chứng minh dựa trên sự đánh giá tổng thể ở bệnh nhân (PGIC) và Bảng câu hỏi về tác động của chứng đau cơ do xơ hóa (FIQ).
ĐẶC TÍNH DƯỢC ĐỘNG HỌC:
Dược động học của pregabalin ở trạng thái ổn định là như nhau ở người tình nguyện khỏe mạnh, bệnh nhân động kinh dùng thuốc chống động kinh và bệnh nhân bị đau mạn tính.
Hấp thu: Pregabalin được hấp thu nhanh chóng khi uống vào lúc đói, với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được trong vòng 1 giờ sau khi dùng đơn liều và đa liều. Sinh khả dụng đường uống của pregabalin được ước tính là ≥ 90% và không phụ thuộc vào liều dùng. Sau khi dùng liều lặp lại, trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24 đến 48 giờ. Tỷ lệ hấp thu pregabalin giảm khi được dùng với thức ăn dẫn đến làm giảm Cmax khoảng 25-30% và kéo dài Tmax khoảng 2,5 giờ. Tuy nhiên, việc dùng pregabalin với thức ăn không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng đối với sự hấp thụ pregabalin.
Phân bố: Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy pregabalin qua được hàng rào máu não ở chuột nhắt, chuột cống và khỉ. Pregabalin qua được nhau thai ở chuột cống và hiện diện trong sữa chuột mẹ. Ở người, thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin sau khi uống khoảng 0,56 lít/kg. Pregabalin không liên kết với protein huyết tương.
Chuyển hóa: Pregabalin bị chuyển hóa không đáng kể ở người. Sau khi dùng một liều pregabalin được đánh dấu phóng xạ, khoảng 98% chất phóng xạ được thu hồi trong nước tiểu là pregabalin dạng không đổi. Các dẫn xuất N-methyl của pregabalin, các chất chuyển hóa chính của pregabalin đã tìm thấy trong nước tiểu, chiếm 0,9% liều dùng. Trong các nghiên cứu tiền lâm sàng, không có dấu hiệu sự racemic hóa pregabalin từ dạng S-enantiomer sang dạng R-enantiomer.
Thải trừ: Pregabalin được thải trừ ra khỏi hệ tuần hoàn chủ yếu là qua sự bài tiết ở thận dưới dạng không đổi. Pregabalin có thời gian bán thải trung bình là 6,3 giờ. Độ thanh thải pregabalin huyết tương và độ thanh thải thận là tỷ lệ thuận với độ thanh lọc creatinin. Cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân giảm chức năng thận hoặc chạy thận nhân tạo.
Tính tuyến tính/không tuyến tính: Dược động học của pregabalin tuyến tính trên khoảng liều khuyến cáo hàng ngày. Sự biến thiên dược động học của pregabalin giữa các cá thể thấp (< 20%). Dược động học của đa liều có thể dự đoán từ dữ liệu của đơn liều. Vì vậy, không cần theo dõi thường xuyên nồng độ pregabalin trong huyết tương.
Giới tính: Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy giới tính không ảnh hưởng đáng kể về mặt lâm sàng trên nồng độ của pregabalin trong huyết tương.
Suy thận: Độ thanh thải của pregabalin tỷ lệ thuận với độ thanh thải creatinin. Ngoài ra, pregabalin được loại bỏ hiệu quả ra khỏi huyết tương bằng cách lọc máu (sau 4 giờ lọc máu nồng độ pregabalin trong huyết tương giảm khoảng 50%). Bởi thận là đường thải trừ chính, cần giảm liều ở bệnh nhân suy thận và dùng liều bổ sung sau lọc máu.
Suy gan: Không có nghiên cứu dược động học chuyên biệt được thực hiện trên những bệnh nhân suy giảm chức năng gan. Do pregabalin không bị chuyển hóa đáng kể và được bài tiết chủ yếu trong nước tiểu ở dạng không đổi, suy giảm chức năng gan dự kiến không làm thay đổi đáng kể nồng độ pregabalin trong huyết tương.
Trẻ em: Dược động học của pregabalin đã được đánh giá trên trẻ em bị động kinh (các nhóm tuổi: 1-23 tháng, 2-6 tuổi, 7-11 tuổi và 12-16 tuổi) ở các mức liều 2,5; 5; 10; và 15 mg/kg/ngày trong một nghiên cứu dược động học và khả năng dung nạp. Sau khi trẻ em được uống pregabalin vào lúc đói, nhìn chung thời gian đạt được nồng độ đỉnh trong huyết tương là tương tự nhau trong các nhóm tuổi và xảy ra sau 0,5 – 2 giờ dùng thuốc. Các thông số Cmax và AUC của pregabalin tăng tuyến tính khi tăng liều trong mỗi nhóm tuổi. AUC thấp hơn khoảng 30% ở bệnh nhi < 30 kg do việc tăng trọng lượng cơ thể điều chỉnh độ thanh thải khoảng 43% ở những bệnh nhân này so với những bệnh nhân ≥ 30 kg. Pregabalin có thời gian bán thải cuối cùng trung bình khoảng 3-4 giờ ở bệnh nhi ≤ 6 tuổi, và 4-6 giờ ở bệnh nhi ≥ 7 tuổi.
Phân tích dược động theo dân số cho thấy độ thanh thải creatinin là một đồng biến có ý nghĩa của độ thanh thải pregabalin đường uống, trọng lượng cơ thể là một đồng biến có ý nghĩa của thể tích phân bố biểu kiến của pregabalin, và các mối liên hệ này tương tự nhau ở trẻ em và người lớn.
Dược động học của pregabalin ở bệnh nhi < 3 tháng tuổi chưa được nghiên cứu.
Người cao tuổi: Độ thanh thải pregabalin có xu hướng giảm khi tuổi tăng. Việc giảm độ thanh thải pregabalin đường uống này không phụ thuộc vào việc giảm độ thanh thải creatinin liên quan đến tuổi tác tăng. Có thể cần giảm liều pregabalin ở những bệnh nhân có chức năng thận bị tổn thương liên quan đến tuổi.
Phụ nữ đang cho con bú: Dược động học của pregabalin 150 mg cho mỗi 12 giờ (300 mg/ngày) được đánh giá trên 10 phụ nữ cho con bú ít nhất 12 tuần sau khi sinh. Việc cho con bú ít hoặc không ảnh hưởng đến dược động của pregabalin. Pregabalin được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ ổn định trung bình khoảng 76% trong huyết tương của người mẹ. Liều trẻ sơ sinh ước tính từ sữa (giả sử mức tiêu thụ sữa trung bình là 150 ml/kg/ngày) của phụ nữ dùng 300 mg/ngày hoặc liều tối đa 600 mg/ngày sẽ tương ứng là 0,31 hoặc 0,62 mg/kg/ngày. Những liều ước tính này chiếm khoảng 7% tổng liều hàng ngày của người mẹ tính theo mg/kg.
BẢO QUẢN: Bảo quản thuốc ở nơi khô, thoáng, nhiệt độ dưới 300C, tránh ánh sáng.
HẠN DÙNG: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
TIÊU CHUẨN: Tiêu chuẩn cơ sở.
NHÀ SẢN XUẤT: 
CÔNG TY CP US PHARMA USA
Lô B1 – 10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi – TP. Hồ Chí Minh – Việt Nam.
Mọi thắc mắc và thông tin chi tiết, xin liên hệ số điện thoại 028-37908860









Danh mục sản phẩm

Videos

Hình ảnh

/images/companies/uspharma/co dong/dhdcd2023/1.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2023

/images/companies/uspharma/dhdcd2022/1.jpg.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2022

/images/companies/uspharma/co dong/anh dhcd 2021/Screenshot 2022-02-17 104600.jpg

Đại Hội Đồng Cổ Đông Thường Niên 2021

/images/companies/uspharma/thu vien/dhcd2020/DSC_9698.JPG

Album ảnh DHCD 2020

Thông tin liên hệ

Văn Phòng Đại Diện Công Ty CP US PHARMA USA
Địa chỉ: 286/4 Tô Hiến Thành, Phường 15, Quận 10, TP.Hồ Chí Minh
(028) 38621919 - 38627979
Công Ty CP US PHARMA USA
 Địa chỉ: Lô B1-10, Đường D2, Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, ấp Bàu Tre 2, Xã Tân An Hội, H. Củ Chi,TP Hồ Chí Minh
(028) 37908860 – 37908861 – 37908863 Fax: (028) 37908856 Hotline: 02837909118
uspharma.vn 
GỌI CHO CHÚNG TÔI

Kết nối với chúng tôi

Copyright 2018 © uspharma.vn